Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

Phân bón Đầu Trâu chứng nhận với chiến lược phân phối bài bản.

CHỨNG NHẬN HỢP QUY PHÂN BÓN|hợp quy phân bón|VietGAP trồng trọt|chứng nhận hệ thống ISO|chứng nhận hợp quy phân vô cơ|hợp quy phân bón vô cơ|khảo nghiệm phân bón|chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng|VietGAP chăn nuôi|Công bố hợp quy phân bón|chứng nhận ISO 14001|Chứng nhận ISO 9001|Chứng nhận hợp chuẩn hợp quy|VietGAP chăn nuôi|Tổ chức chứng nhận ISO 9001|Chứng nhận VietGAP trồng trọt thủy sản|Công bố hợp quy phân bón vô cơ|Công bố Chất lượng sản phẩm phân bón|Cấp giấy phép sản xuất phân bón|Khảo nghiệm phân bón vô cơ|Khảo nghiệm phân bón hữu cơ Đối với những PKN chưa có đủ thiết bị và con người để xác định tính đúng giống bằng các kỹ thuật điện di và PCR thì không nên cho phép tự chứng nhận chất lượng đối với lúa lai nhập khẩu


I. Chứng nhận hợp quy phân bón|hợp quy phân bón|VietGAP trồng trọt|chứng nhận hệ thống ISO|chứng nhận hợp quy phân vô cơ|hợp quy phân bón vô cơ|khảo nghiệm phân bón|chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng|VietGAP chăn nuôi|Công bố hợp quy phân bón|chứng nhận ISO 14001|Chứng nhận ISO 9001|Chứng nhận hợp chuẩn hợp quy|VietGAP chăn nuôi|Tổ chức chứng nhận ISO 9001|Chứng nhận VietGAP trồng trọt thủy sản|Công bố hợp quy phân bón vô cơ|Công bố Chất lượng sản phẩm phân bón|Cấp giấy phép sản xuất phân bón|Khảo nghiệm phân bón vô cơ|Khảo nghiệm phân bón hữu cơ Bán theo Giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu ra công chúng


Thị trường phân Urê của Trung Quốc đang có nhiều biến động do nguồn hàng cung cấp bị gián đoạn. Trái ngược với Việt Nam, giá phân Urê ở Trung Quốc có xu hướng giảm trong những ngày qua, hiện dao động ở mức 1.650-1.700 NDT/tấn. Giá phân Kali trên thị trường thế giới tiếp tục chịu áp lực giảm giá. Từ tháng 10/2009 đến nay, nguồn cung Kali liên tục được bổ sung từ các nhà cung cấp và tái xuất khẩu từ Trung Quốc. Giá phân Kali trên thị trường thế giới của lô hàng CFR 400 đang được giao dịch ở mức 400 USD; lô hàng CFR525 giao dịch với giá 490 USD.Trong tuần qua, ở trong nước mặc dù nhu cầu mua chưa tăng cao nhưng giá phân bón tại các địa phương lại đột ngột tăng. Tại Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL, nhu cầu phân bón đang ở mức thấp, nhưng giá đã tăng 10% so với những đầu tháng 11/2009, giá tăng trung bình từ 200-800 đồng/kg. Tại An Giang, hiện phân urê có giá 6.000 đồng/kg, tăng 800 đồng/kg so với tuần trước; tại Tp.HCM, phân urê đạt mức 6.200 đồng/kg. Giá urê tại phía Bắc và miền Trung cũng trong xu hướng tăng: tại Hà Nội giá urê đạt 6.200 đồng/kg. Giá phân DAP cũng tăng theo xu hướng chung, mức tăng trung bình từ 100-200 đồng/kg, dao động 6.800-10.000 đồng/kg. Đặc biệt ở một số tỉnh ĐBSCL, nông dân đã bắt đầu xuống giống sớm vụ đông xuân, nên nhu cầu phân bón rậm rịch tăng, khiến giá phân bón DAP bị sốt” cục bộ, có nơi lên tới 9.000-10.000 đồng /kg. Các loại phân khác như Kali, SA, phân lân cũng trong xu hướng tăng nhẹ so với tuần trước. Chỉ trong nửa tháng qua, Công ty TNHH Duy Thành tỉnh Kiên Giang phải điều chỉnh giá bán tới 4-5 lần, thậm chí có loại phân tăng giá tới 10.000 đồng/bao trong 1 ngày. Tại Hậu Giang, Công ty Cổ phầnPhân bón sinh hóa Củ Chi đưa ra bảng giá áp dụng từ ngày 18/11: DAP vàng sữa là 439.000 đồng/bao, DAP xanh HAVEST 483.000 đồng/bao, lân OMP 136.000 đồng/bao. Theo Trung tâm Thông tin nông nghiệp nông thôn AROINFO, giá phân bón tăng bởi 3 nguyên nhân. Một là, do tác động của tỷ giá liên ngân hàng giữa VND và USD tăng, dẫn đến việc mua ngoại tệ để thanh toán các lô hàng phân bón nhập khẩu gặp khó, đã làm tăng giá thành phân bón nhập khẩu. Chênh lệch khi mua USD chợ đen đã làm tăng chi phí nhập khẩu phân bón lên khoảng 20 USD/tấn. Hai là, do các doanh nghiệp phân bón trong nước mặc dù nguồn cung dự trữ đang ở mức cao nhưng vẫn tận dụng biến động của thị trường thế giới đã găm hàng đẩy giá tăng. Ba là nông dân khi thấy giá phân bón tăng đi mua phân bón về tích trữ để chuẩn bị cho vụ đông xuân.Giá phân bón tăng, các doanh nghiệp kinh doanh vui mừng, còn nông dân thì lo chạy mua vì sợ giá sẽ tiếp tục leo thang. Một nông dân ở Kiên Giang phàn nàn, tuy giá chưa tăng nhiều, nhưng mỗi nhà nhu cầu sử dụng phân lên tới vài chục bao, cũng mất đứt gần vài triệu đồng. Nông dân ĐBSCL thường có tâm lý phải mua ngay từ đầu vụ cho chắc, khi vào chính vụ không phải lo giá cả lên xuống.Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng lượng phân bón nhập khẩu của cả nước trong 10 tháng đầu năm đạt 3,87 triệu tấn, tăng 37,37% về lượng, nhưng giảm 15,12% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008. Theo Tổng công ty Hóa chất Việt Nam, nước ta đang nhập phân bón từ 14 thị trường, trong đó từ Trung Quốc chiếm 66% tổng lượng nhập về.Với nguồn cung dồi dào trên thế giới cũng như trong nước, bà Trương Hồng Kim, nhà nghiên cứu của AGROINFO nhận định: Thị trường phân bón trong nước chịu sự biến động theo giá nhập khẩu và tỷ giá. Tuy nhiên, do nguồn cung trong nước hiện vẫn đang ở mức cao, đủ cung cấp cho nhu cầu sản xuất tới cuối năm, do đó việc tăng giá phân bón trong 10 ngày qua sẽ chỉ trong ngắn hạn. Giá phân bón sẽ sớm trở lại ổn định trong thời gian tới”. Mang hàng sang nước bạn Khi Campuchia kêu gọi nhà đầu tư trong khu vực tham gia các dự án về nông lâm nghiệp, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã sang Campuchia thuê đất đầu tư trồng lúa, cao su, điều, mía... Diện tích trồng của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tăng cao nên nhu cầu tiêu thụ phân bón cho cây trồng cũng ngày một lớn. Với khí hậu, thổ nhưỡng Campuchia giống Việt Nam, phân NPK đang sản xuất tại Năm Sao sẽ phù hợp tại thị trường này. Nghĩ vậy, ông Trần Văn Mười, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Năm Sao, đã thử đưa phân bón sản xuất tại Việt Nam sang phân phối tại thị trường này. Thời gian đầu, Công ty gặp phải trở ngại lớn. Người dân Campuchia vốn chưa quen với việc bón phân cho cây nên chưa quan tâm đến sản phẩm này. Nhiều vùng ở Campuchia, chính quyền còn cấm bán phân bón vì quan niệm phân bón làm ảnh hưởng đến chất lượng đất. Phải làm sao để bà con nông dân hiểu được tác dụng của việc chứng nhận, phân bón bón phân cho cây? Lúc này Công ty đã kết hợp với một số nhà khoa học từ Việt Nam sang Campuchia hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật canh tác mới. Sau thời gian tìm hiểu và nắm được các quy trình sản xuất tiết kiệm chi phí, giúp cây trồng tăng năng suất hơn trước, người dân Campuchia bắt đầu có cái nhìn khác về phân bón. Nhưng khó khăn là sau đó Năm Sao phải cạnh tranh với các nhà phân phối của Trung Quốc, Thái Lan. Nhiều phân bón bị làm giả, giá thấp từ những nhà phân phối khác đã khiến cho Công ty bị lây tiếng xấu. Năm Sao đã kiên trì làm các thử nghiệm trực quan, hướng dẫn người nông dân để họ phân biệt chất lượng. Cứ miệt mài giải quyết từng vấn đề như thế, đến năm 2008, tức 3 năm sau ngày thâm nhập thị trường, sản lượng của Công ty đã tăng. Phương án chạy theo nông nghiệp của Năm Sao đã thành công khi trang trại của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Campuchia như Cao su Phú Riềng, Cao su Bà Rịa, Cao su Tân Biên...đều là khách hàng của Công ty. Doanh thu của Năm Sao năm 2011 đã lên đến 1.396 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 36 tỉ đồng. Sau gần 7 năm có mặt tại Campuchia, hiện nay Công ty tiêu thụ khoảng 3.000 tấn các loại/tháng. Cho đến nay, phân bón Năm Sao đã được tiêu thụ rộng rãi tại 15 tỉnh của Campuchia từ khu vực giáp biên giới Thái Lan đến biên giới Việt Nam. Do nhu cầu tăng nhanh nên hiện nay nhà máy phải chạy 3 ca mới đảm bảo kịp thời cho những đơn hàng từ Campuchia. Đi trước 1 bước Nhận thấy nhu cầu cao như vậy, Năm Sao đã quyết định mở nhà máy ngay tại nước bạn. Thủ tướng Hunsen của Campuchia đã quan tâm tới dự án này và cho rằng, người dân Campuchia sẽ được cung cấp phân bón nhiều hơn với chất lượng tốt hơn. Ông Hunsen cũng cho biết, đây là nhà máy thứ bảy được xây dựng tại Campuchia và là nhà máy phân bón đầu tiên tại Campuchia. Tháng 12.2009, Năm Sao đã khởi công xây dựng nhà máy phân bón Năm Sao tại tỉnh Kandal, Campuchia với tổng vốn đầu tư 65 triệu USD. Nhà máy sản xuất 2 loại phân chính là NPK và phân vi sinh vật giúp cải tạo đất. Theo thiết kế, công suất giai đoạn đầu là 350.000 tấn/năm, giai đoạn sau tăng lên 500.000 tấn/năm. Nhà máy được đầu tư 3 dây chuyền sản xuất nhập từ Nhật, Trung Quốc và Mỹ, tháng 11.2012 sẽ chính thức đi vào hoạt động. Sản phẩm của nhà máy tại Campuchia sẽ mang nhãn mác và thương hiệu Campuchia. Việc đầu tư tại chỗ sẽ giúp Công ty giảm được chi phí vận chuyển so với việc xuất khẩu trước đây. Ông Mười cho biết, nhà máy đã áp dụng mô hình quản lý hàng tồn kho Just in time Đúng sản phẩm - với đúng số lượng - tại đúng nơi - vào đúng thời điểm cần thiết. Mô hình này giúp nhà máy giảm chi phí trong khâu lưu kho. Theo ông Mười, trước mắt nhà máy sẽ sản xuất để phục vụ thị trường Campuchia, sau đó tiến tới xuất khẩu sang các thị trường lân cận. Công ty cũng đã xuất khẩu sang thị trường Nhật và Thái Lan trong 3 năm qua. Không chỉ sản xuất NPK tại Campuchia, Công ty Phân bón Quốc tế Năm Sao Campuchia còn là tổng đại lý cung cấp các loại phân bón trực tiếp như đạm, lân, Kali, Urê... Cũng như thuốc bảo vệ thực vật các loại tại đây. Vào lúc này, với việc các doanh nghiệp phân bón trong nước đang đầu tư ồ ạt xây dựng nhà máy sản xuất, phân bón đang có xu hướng vượt nhu cầu tiêu thụ. Theo ông Nguyễn Hạc Thúy, Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam, bắt đầu từ năm 2012, Việt Nam sẽ thừa phân bón. Do vậy, dác doanh nghiệp trong nước sẽ phải tự tìm thị trường xuất khẩu để tránh tồn kho.. Cố tình vi phạm Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, kiểm tra chất lượng vật tư nông nghiệp tại 112 đại lý và cửa hàng. Do cạnh tranh không lại hàng lậu, các loại vật tư nông nghiệp khi đến tay nông dân ở TP Cần Thơ và nhiều tỉnh ĐBSCL đã qua ít nhất 2-4 khâu trung gian. Ở một số vùng thấp hơn.Điều này dẫn đến việc chúng ta mất một lượng tiền lớn để nhập khẩu phân bón đồng thời lại gây ra những ảnh hưởng đến môi trường do phân bón bị rửa trôi, đảm bảo tính chính xác kết quả kiểm nghiệm. Giá phân kali có mức13.000 đồng/kg, tịch thu 917 tấn phân bón các loại.


Cty CP Phân lân Văn Điển đang cung cấp cho thị trường trên 60 loại phân bón chuyên dùng cho từng loại đất, từng loại cây trồng theo từng thời điểm sinh trưởng. Sản phẩm phân chuyên dùng Văn điển SX trên nền lân Văn Điển đều chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng cung cấp đồng thời, cân đối cho cây trồng. Lân Văn Điển là loại phân khoáng thiên nhiên không phải là phân hóa học nên thích hợp với việc canh tác nông sản sạch theo VietGAP, Global GAP. Phân bón giả, kém chất lượng tràn lan Từ đầu năm đến nay, đoàn kiểm tra liên ngành Ban chỉ đạo 127 tỉnh Hậu Giang đã phát hiện 15/58 mẫu phân bón là giả và kém chất lượng, đã thu giữ khoảng 6 tấn phân bón giả như: Phân hữu cơ sinh học nhãn hiệu TYHUMAX super tổng hợp, loại 50kg/bao của Công ty CP Nông nghiệp Nhất có trụ sở tại xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh sản xuất; phân bón nhãn hiệu BMC-101COWCATS của Công ty TNHH Bảo Minh Châu, địa chỉ nơi sản xuất tại xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh… Trước đó, nhiều loại phân bón khác có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp cũng đã bị phát hiện và xử lý như: Phân bón trung vi lượng cao cấp KRICE loại 20kg/thùng của Công ty Cổ phần Nông nghiệp Sao Vàng, phường An Hòa, TP Rạch Giá, Kiên Giang được phát hiện trên địa bàn huyện Châu Thành A và phân bón BMC-101 COWCATS sữa loại 500ml/chai của Công ty TNHH Bảo Minh Châu phát hiện ở huyện Vị Thủy… Đoàn kiểm tra liên ngành đi kiểm tra một số đại lý phân bón trên địa bàn thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. Ông Ung Hữu Nghị, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Hậu Giang, cho biết: - Tình trạng sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng PBG-KCL trên địa bàn tỉnh Hậu Giang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Những mặt hàng PBG-KCL đều được đưa về tiêu thụ ở những xã vùng sâu, vùng xa, nơi mà người dân chưa đủ kiến thức để phân biệt phân bón thật và phân bón giả. Các loại PBG-KCL thường có giá thành rẻ hơn từ 5-20% nên dễ đánh vào tâm lý ưa rẻ của người dân. Khi mua và sử dụng PBG-KCL vào sản xuất, hầu hết người nông dân đều không thể nhận biết được. Khi năng suất cây trồng thấp, nhiều người vẫn nghĩ do thời tiết, sâu bệnh. Nhưng sau thời gian dài sử dụng, sự tác động của PBG-KCL đối với năng suất cây trồng ngày càng rõ rệt. PBG-KCL còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ phì nhiêu của đất. Theo ông Ung Hữu Nghị, việc xử lý dứt điểm nạn PBG-KCL trên địa bàn tỉnh là rất khó khăn. Theo quy định, việc lấy mẫu để kiểm định thì cơ quan chức năng không được tạm giữ hàng hóa kể cả đối với lô hàng có dấu hiệu giả, kém chất lượng. Hơn nữa, thời gian kiểm định dài khoảng 7-10 ngày nên khi chưa có kết quả thì đối tượng sản xuất, kinh doanh PBG-KCL đã bán hoặc tẩu tán hàng hóa vi phạm đi nơi khác. Hiện nay, việc cấp giấy phép sản xuất kinh doanh phân bón khá đơn giản: Cơ sở sản xuất phân bón tự công bố và đăng ký” tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm; khi đưa vào sản xuất, lưu thông rồi thì cơ quan chức năng mới tiến hành hậu kiểm. Khi phát hiện ra cơ sở vi phạm, việc quyết định xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan có thẩm quyền đối với các đối tượng sản xuất phân giả rất khó khăn vì các cơ sở này không nằm trên địa bàn tỉnh; khi phối hợp xác minh để xử lý thì mới biết trụ sở in trên bao bì không có thực, hoặc cơ sở thay đổi, di dời trụ sở và tiếp tục sản xuất PBG-KCL. Điển hình như: Phân hữu cơ khoáng CAHUMATE dạng viên, loại 50 kg/bao của Cty TNHH Vĩnh Lợi có địa chỉ 21/5D Trần Hưng Đạo, phường Mỹ Quý, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang; phân SUPE Lân - Siêu hạ phèn, giải độc hữu cơ loại 50 kg/bao của cơ sở Thành Phát địa chỉ tại ấp Bình Thiện, xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang có hàm lượng thấp dưới 50% so với hàm lượng công bố trên bao bì sản phẩm. Thế nhưng, khi cơ quan chức năng đến hai địa chỉ trên đều không tìm thấy cơ sở sản xuất phân bón nào. Bên cạnh đó, việc chưa có kho và chế tài xử lý những loại PBG-KCL bị thu giữ cũng là vấn đề nan giải trong công tác đấu tranh với PBG-KCL ở địa bàn tỉnh Hậu Giang. Có sự móc ngoặc và lách luật Trao đổi với chúng tôi, ông Ung Hữu Nghị nói: - Việc sản xuất, kinh doanh PBG-KCL là siêu lợi nhuận. Đặc biệt gần đây đã xuất hiện sự hiệp thương giữa nơi sản xuất và chủ kinh doanh. Cụ thể, ngoài phần chia lợi nhuận, nếu bị bắt, chủ sản xuất sẽ chịu mọi kinh phí nộp phạt, vừa lách luật vừa tiếp tục giữ mối liên kết để làm ăn bất chính. Hiện nay, công tác kiểm tra trên địa bàn chỉ là một giải pháp tình thế trong vấn đề giải quyết nạn PBG-KCL. Bởi vì, hầu hết đoàn kiểm tra chỉ lấy những mẫu phân bón mới, hoặc chưa qua kiểm định về kiểm định chất lượng. Trong khi đó, còn hàng trăm, hàng nghìn tấn PBG-KCL nhái bao bì của các công ty, xí nghiệp có uy tín vẫn lưu thông trên thị trường. Vì vậy, để khắc phục tình trạng phân bón giả làm rối loạn thị trường như đã nêu trên, các cơ quan chức năng cần siết chặt quản lý, siết chặt việc cấp phép kinh doanh. Cần điều chỉnh đưa phân bón trở thành mặt hàng sản xuất kinh doanh có điều kiện và phải được cấp phép mới được hoạt động. Theo đó, tổ chức, cá nhân muốn tham gia sản xuất phân bón phải đáp ứng các yêu cầu về giấy phép, chứng minh năng lực sản xuất, trang thiết bị, nhà xưởng và cả các điều kiện về môi trường… Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm túc các quy định về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm để làm cơ sở cho quá trình thanh tra, xử phạt các trường hợp vi phạm; thời gian kiểm định phải được rút ngắn; cần nâng mức xử phạt đối với cơ sở sản xuất kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng vì mức xử phạt hiện nay là 40-50 triệu đồng/vụ vi phạm đã không còn phù hợp với tình hình thực tế… Những vấn đề trên cần được cơ quan chức năng khẩn trương nghiên cứu hồi đáp, bởi càng kéo dài thì thiệt hại về kinh tế và môi trường do PBG-KCL gây ra sẽ càng lớn. Bài và ảnh: VIỆT HÀ. Theo Hiệp hội phân bón Việt Nam, vụ Hè – Thu 2009 cả nước cần khoảng 400.000 tấn phân Urê và khoảng 2.000.000 tấn phân bón các loại. Dự kiến, khi bước vào sản xuất vụ Đông Xuân 2010-2011, nhu cầu về phân Urê sẽ tăng lên khoảng 450.000 tấn. Trong khi đó, năng lực sản xuất phân bón và các nguồn cung trong nước mới chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu về phân Urê, còn các loại phân bón như: DAP, SA… đều phải nhập khẩu. Dự báo của các chuyên gia cho thấy, giá phân bón chỉ biến động nhẹ trong những tháng cuối năm, nhưng hiện tại giá phân bón trong nước có loại đã tăng từ 20-30%, còn trung bình tăng từ 500-1.000đ/kg. Hiện giá phân Urê trên cả nước dao động từ 7.500-8.500đ/kg, có nơi giá 9.000đ/kg. Giá phân Kali từ 12.000 – 13.500đ/kg, giá phân DAP từ 22.500-24.00đ/kg. Những năm qua, để tạo điều kiện cho sản xuất phân bón trong nước, Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích, trong đó có việc bù giá khí và giá than cho sản xuất phân đạm. Trong khi đó, nhiều nước khác đã đánh thuế tài nguyên phân bón và nâng thuế XK phân bón, như Trung Quốc nâng thuế từ 35 lên 135%. Do vậy, giá thành và giá bán phân bón trong nước luôn thấp hơn nhiều giá phân bón thế giới. Hiện nay giá phân bón thế giới cao hơn giá phân bón tại Việt Nam nên một số doanh nghiệp đã nâng giá bán, điều này làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân. Vì vậy, bên cạnh việc cân đối xuất khẩu, Chính phủ cũng cần cân nhắc vấn đề bình ổn giá phân bón trong nước nhất là trong thời điểm hiện nay khi phân bón là một trong những mặt hàng có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.Minh Diệp. CôngThương - Khởi nguồn từ một cơ sở sản xuất tại Khu công nghiệp Tân Phú Trung, Củ Chi, TP Hồ Chí Minh, đến nay Tập đoàn Quế Lâm có 4 nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ tại 4 vùng miền của đất nước: Công ty Quế Lâm Phương Bắc, Công ty Quế Lâm Phương Nam, Công ty Quế Lâm Tây Nguyên, Công ty Quế Lâm Miền Trung. Công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh theo phương pháp lên men ủ háo khí được nghiên cứu, phát triển và chuyển giao thành công thông qua quỹ hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam VIFOTEC bởi một nhóm các nhà khoa học Bắc Mỹ. Giữa năm 1990, giáo sư tiến sỹ Phạm Văn Hữu, một nhà khoa học và là Việt kiều từ Canada trở về Việt Nam. Ông Chung nhan, phan bon đã chuyển giao công nghệ cho nhiều công ty trên toàn quốc. Trong đó, Tập đoàn Quế Lâm là một trong những đơn vị đã áp dụng thành công. Công nghệ sản xuất phân hữu cơ sinh học theo phương pháp lên men ủ háo khí trên cơ sở các chủng vi sinh vật, nguồn than bùn tại các mỏ và photphorit tự nhiên trong các hang động tại nhiều địa phương trên đất nước ta. Đây là công nghệ sản xuất phân hữu cơ sinh học tiến tiến nhất của thế giới vào thời kỳ bấy giờ và vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay. Đây cũng chính là công nghệ được cho là công nghệ của tương lai” trong lĩnh vực nông nghiệp. Được đầu tư công nghệ tiên tiến, với 14 chủng vi sinh vật khác nhau của một trong các tập đoàn sản xuất vi sinh vật nổi tiếng hàng đầu thế giới là Nataghi- Canada và EM- Nhật Bản, trong đó các vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải Xenlulo và lân khó tiêu ở than bùn và quặng P2O5 thành các khoáng và hữu cơ dễ tiêu, phân hữu cơ sinh học Quế Lâm đảm bảo hai yếu tố: vừa sạch trong sản xuất lại sạch trong tiêu dùng. Với những tác dụng cụ thể: Hoàn lại và bổ sung hàm lượng hữu cơ bị thiếu hụt cho đất. Làm cho đất tơi xốp, giữ được độ ẩm, tăng khả năng hấp thụ của cây trồng. Giữ được độ phì nhiêu của đất, cải tạo đất. Tại Quế Lâm, quy trình sản xuất sản phẩm được chuẩn hóa, đồng bộ và hiện đại bằng các dây chuyền tự động cấp phối nguyên liệu, đùn ủ, phối trộn, làm hạt, đóng bao…. Quy trình, dây chuyền sản xuất này đã được tự nghiên cứu, phát triển bởi đội ngũ lãnh đạo và cán bộ chủ chốt đứng đầu là Chủ tịch HĐQT Nguyễn Hồng Lam- người đã có trên 22 năm kinh nghiệm quản lý điều hành các doanh nghiệp phân bón hữu cơ. Việc thay đổi, cải tiến công nghệ đã tiết kiệm được chi phí sản xuất, chi phí nhân công để đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ. Thời gian qua, nhiều nhà sản xuất đã đưa ra thị trường một khối lượng lớn các sản phẩm phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trên đồng ruộng. Việc lạm dụng các loại sản phẩm phân bón hóa học trong một thời gian dài đã làm cho đất đai bị thoái hóa. Hệ sinh thái bị phá vỡ và mất cân bằng, môi trường ô nhiễm, cây hấp thụ nhiều hóa chất và không thể phân giải hết nên tồn đọng lại trong nông sản nhiều dư lượng độc hại. Bởi vậy, việc thâm canh bón phân hữu cơ đầy đủ với tính năng bổ sung lượng hữu cơ sẽ làm phục hồi và tái tạo lại sự cân bằng, tạo ra các loại nông sản sạch và an toàn. Chính vì thế, xu hướng sử dụng phân hữu cơ sinh học ngày càng được ưa chuộng. Sản phẩm của Quế Lâm đã chiếm được lòng tin và sự tín nhiệm của khách hàng, sản phẩm đã có mặt trên khắp mọi miền, từ sản lượng sản xuất ban đầu là 5.000 tấn/năm. Đến nay công ty đã sản xuất và tiêu thụ gần 150.000 tấn/năm. Nguyễn Duyên .. Dự kiến phải nhập 2,47 triệu tấn phân bón các loại với dự kiến ngoại tệ lên đến hơn 960 triệu USD, trong đó đạm SA là 850 nghìn tấn, phân DAP 570 nghìn tấn, 950 nghìn tấn phân kali và khoảng 100 nghìn tấn NPK. Phạm Anh. Ngọc Hùng Công nhân một nhà máy phân bón đang thực hiện công đoạn may miệng bao trước khi đưa sản phẩm ra thị trường. Ảnh: Ngọc Hùng Theo số liệu thống kê của Hiệp hội phân bón Việt Nam, từ giữa tháng 9 đến nay giá phân bón trên thị trường thế giới tăng từ 40-100 đô la Mỹ/tấn nên đã đẩy giá trong nước tăng trung bình từ 500.000-1.000.000 đồng/tấn. Một nguyên nhân khác, theo giải thích của ông Phong là giá các loại phân bón NPK tăng nhanh một phần là do giá lúa bán trên thị trường tăng mạnh nên vừa bán lúa xong nông dân lại mua về trữ cho vụ đông xuân tới.Hiện tại, lượng phân bón được người dân dự trữ vào khoảng 50-60% nhu cầu, nên từ nay đến khi vụ đông xuân bắt đầu sẽ không có hiện tượng sốt giá nữa”, ông Phong nói.Tháng trước giá phân ure là 5,96 triệu đồng/tấn, sau đó tăng lên 7 triệu đồng/tấn, giá phân kali từ 7 triệu đồng/tấn nhảy lên 7,5 triệu đồng/tấn. Nhưng nay, giá phân ure, kali trên thị trường đã bắt đầu giảm xuống gần bằng thời thời điểm tháng 9”, ông Phong cho biết.Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, năm 2010 nhu cầu sử dụng phân bón các loại của cả nước là 9,1 triệu tấn, trong đó, các nhà máy trong nước chỉ đáp ứng 60%, còn lại phải nhập khẩu.Theo ông Phong, phải đến năm 2015 Việt Nam mới có thể sản xuất được đủ nhu cầu phân bón của ngành nông nghiệp, do đó, từ nay đến đó, giá phân bón trong nước vẫn bị chi phối bởi giá phân bón trên thị trường thế giới. Giá tăng do thiếu hụt nguồn cung Theo Bộ Công Thương, từ đầu năm, do nhu cầu phân bón tăng mạnh nên một số nhà máy trong nước đã đẩy mạnh sản xuất và nhiều đơn vị đã nhập khẩu về một lượng phân bón lớn. Nhưng do lệch mùa vụ giữa các vùng miền, lãi suất ngân hàng cao nên nông dân chỉ mua ở mức độ vừa phải dẫn đến cuối quý I/2012 lượng tồn kho phân bón tăng hơn 55% so với cùng kỳ. Để quay vòng đồng vốn, một số doanh nghiệp đã giảm giá bán, giảm lượng hàng tồn kho. Nhưng ngay sau đó, nhu cầu sử dụng phân bón lại tăng cao, nhất là tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long bước vào vụ hè thu; khu vực Đông Nam bộ và Tây Nguyên bón phân cho cây cà phê và cao su; mùa mưa tại miền Nam đến sớm hơn quy luật mọi năm nên đã thiếu hàng cục bộ khiến giá phân bón tăng cao. Trong khi đó, theo kế hoạch, chung nhan, phan bon Nhà máy Đạm Cà Mau công suất 800.000 tấn/năm sẽ cho sản phẩm tháng 2 và đạt 100% công suất vào tháng 4/2012, Nhà máy Đạm Ninh Bình công suất 560.000 tấn/năm cũng sẽ cung cấp sản phẩm vào tháng 2/2012. Tuy nhiên, những nhà máy này đã không vận hành đúng kế hoạch, làm cho nguồn cung urê khan hiếm, giá phân bón tăng cao. Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển cũng tăng mạnh cùng với tác động của giá phân bón trên thị trường thế giới tăng cao nên giá phân bón trong nước cũng phải tăng theo. Lý giải về điều này, Hiệp hội phân bón Việt Nam cho biết, nhu cầu phân bón các loại của cả nước trong năm 2012 vào khoảng 9,8 triệu tấn. Trong đó phân urê 2 triệu tấn, đạm SA 710.000 tấn, phân kali 920.000 tấn, DAP 950.000 tấn, phân NPK 3,5 triệu tấn, phân lân các loại 1,8 triệu tấn. Trong khi đó, khả năng sản xuất trong nước là 7,25 triệu tấn phân bón các loại và chỉ còn phải nhập thêm phân SA, kali, DAP. Cũng do Việt Nam vẫn phụ thuộc một số loại phân bón vào thị trường thế giới, nên mỗi khi thị trường này có biến động sẽ tác động ngay đến thị trường trong nước và việc tăng giá bán phân bón là điều khó tránh khỏi. Cụ thể, từ đầu năm đến nay, giá phân bón trên thị trường thế giới luôn có xu hướng tăng, đặc biệt do ngành nông nghiệp của các quốc gia lớn trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc… cùng vào vụ sản xuất các cây lương thực chính nên giá nhập khẩu của mặt hàng này trong tháng 6 đã tăng khá mạnh, lên đến 461 USD/tấn so với mức 300 USD/tấn của cùng kỳ năm 2011. Hiện giá bán phân urê ở các tỉnh phía Nam từ 570.000 đến 575.000 đồng/bao 50 kg, tăng khoảng 70.000 đến 80.000 đồng so với đầu năm nay; ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung cao hơn, ở mức 590.000 đến 600.000 đồng/bao. Trong khi nguồn cung trong nước không đáp ứng đủ, để đáp ứng nhu cầu trong nước, một số đơn vị đã tiếp tục nhập khẩu phân bón để đáp ứng nhu cầu thị trường. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phân urê là một trong những loại phân bón được nhập khẩu nhiều nhất trong các năm trước. Tuy nhiên, bước sang năm 2012, mặc dù nhà máy đạm Cà Mau và Ninh Bình đi vào hoạt động chưa ổn định, nhưng cũng góp phần giảm lượng phân urê nhập khẩu trong tháng 6 xuống còn 270.000 tấn, đạt kim ngạch 125 triệu USD, đưa lượng phân bón các loại nhập khẩu 6 tháng đầu năm trên 1,4 triệu tấn với giá trị nhập khẩu 636 triệu USD, giảm 23% về lượng và giảm 11,2% giá trị nhập khẩu so với cùng kỳ năm trước. Đảm đảm bảo nguồn cung cho thị trường Dự báo về thị trường phân bón thời gian tới, Bộ Công Thương cho biết, thị trường phân bón trong nước sẽ có biến động do ảnh hưởng bởi sự biến động của thị trường phân bón quốc tế. Theo đó, các thị trường lớn như Ấn độ, Trung Quốc được dự báo sẽ tăng giá nhiều loại phân bón đặc biệt là urê phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và một số nước cũng đã thực hiện chính sách không khuyến khích xuất khẩu phân bón để tiêu dùng trong nước. Để giải quyết bài toán cung cầu và góp phần hạ nhiệt thị trường phân bón trong nước, Bộ Công Thương đã đề nghị các nhà máy sản xuất cần phải hoạt động liên tục và ổn định để đảm bảo nguồn cung. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất phân đạm trong nước, các đầu mối nhập khẩu phân bón cũng chung tay thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường và cần coi đó là trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội. Với đơn vị chiếm tới 60% thị phần phân đạm và chịu trách nhiệm trong công tác bình ổn thị trường, Bộ Công Thương chỉ đạo Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí PVFCCo đẩy mạnh sản xuất, chuẩn bị vận chuyển trước lượng hàng về các kho đầu mối, kho trung chuyển, gửi kho đại lý ở các vùng miền trước khi đến cao điểm mùa vụ, đặc biệt là vụ đông xuân đang cận kề. Bên cạnh đó PVFCCo cũng cần triển khai sớm kế hoạch tiêu thụ đạm Cà Mau, tránh để hiện tượng trong khi tồn kho rất lớn nhưng thị trường lại thiếu hàng như thời gian vừa qua. Mặt khác, PVFCCo cũng đẩy mạnh việc nắm sát thông tin thị trường để điều tiết nguồn hàng tập trung cho các địa phương đang có nhu cầu cao, hạn chế việc tăng giá do thiếu hàng cục bộ. Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng yêu cầu hai nhà máy đạm Cà Mau và Ninh Bình sớm đi vào vận hành thương mại, cùng với nhà máy đạm Phú Mỹ vận hành ổn định để góp phần chấm dứt những cơn sốt giá phân đạm trong nước. Văn Xuyên. Cây mai rụng trụi lá sau khi bón phân Hoa đồng loạt” .


II. Chứng nhận hợp quy phân bón|hợp quy phân bón|VietGAP trồng trọt|chứng nhận hệ thống ISO|chứng nhận hợp quy phân vô cơ|hợp quy phân bón vô cơ|khảo nghiệm phân bón|chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng|VietGAP chăn nuôi|Công bố hợp quy phân bón|chứng nhận ISO 14001|Chứng nhận ISO 9001|Chứng nhận hợp chuẩn hợp quy|VietGAP chăn nuôi|Tổ chức chứng nhận ISO 9001|Chứng nhận VietGAP trồng trọt thủy sản|Công bố hợp quy phân bón vô cơ|Công bố Chất lượng sản phẩm phân bón|Cấp giấy phép sản xuất phân bón|Khảo nghiệm phân bón vô cơ|Khảo nghiệm phân bón hữu cơ Còn muốn được chứng nhận là phân bón mới thì phải qua 2 năm khảo nghiệm cùng mức phí là 30 triệu đồng


.Ông Đỗ Thanh Lam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý thị trường, cho biết: Năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013, lực lượng quản lý thị trường kiểm tra 5.372 vụ, xử lý 1.390 vụ với tổng số tiền phạt trên 17,2 tỷ đồng, tịch thu 917 tấn phân bón các loại. Không ít vụ phân bón giả, kém chất lượng quy mô lớn bị phát hiện, đã chuyển hồ sơ sang cơ quan công an khởi tố. Tuy nhiên, kết quả bắt giữ như trên chưa phản ánh đúng thực tế vi phạm. Nông dân hoang mang với nạn phân rởm Thời gian qua, mặc dù các lực lượng chức năng đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện, xử lý nhiều vụ vi phạm về kinh doanh , phân bón kém chất lượng. Nhưng theo phản ánh của bạn đọc, tình trạng này vẫn diễn biến phức tạp, thậm chí có chiều hướng gia tăng tại nhiều địa phương. Ông Nguyễn Thanh An, xã Thái Bảo, huyện Gia Bình Bắc Ninh cho biết, ông mua phân NPK để bón cho cây lúa, nhưng bón xong thì thấy cây lúa không phát triển. Khi đem loại đã bón cho loại cây trồng khác, thì thấy phân bón đó không hòa tan được và bị vón cục. Trên VOV, lợi dụng sự thiếu thông tin của người dân, sự hám lợi của các đại lý, phân bón kém chất lượng đã len lỏi vào từng thôn làng ở Gia Lai, ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất và gây bức xúc cho bà con nông dân. Như thường lệ, vào cuối mùa mưa, anh Nguyễn Văn Bẩy ở thôn Phù Tiên, xã Ia Bă, huyện Ia Grai lại đến đại lý vật tư nông nghiệp lớn nhất xã mua phân bón cho hơn 2 héc-ta cà phê và hơn 200 trụ tiêu của mình. Đại lý giới thiệu cho anh Bẩy loại phân Urê- Silic của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thiên Ngưu về dùng thử. Anh đã dùng một phần trong số này rắc quanh gốc cà phê, nhưng đến nay đã hơn 3 tháng, qua nhiều lần tưới nước và xới gốc, những hạt đen của phân vẫn trơ như sỏi đá. Thử hòa phân này trong nước thấy chỉ tan được một nửa. Nửa còn lại kết tủa thành từng mảng keo dính, như đất sét. Anh Nguyễn Văn Bẩy nói: Bình thường, nếu rắc thẳng phân vào cây, tôi sẽ khó phát hiện. Nhưng vì hôm đó trời nắng, tôi phải hòa phân vào nước để tưới tiêu. Sau khi ngâm 10 đến 15 phút, tôi thấy cô đọng dưới đáy phi loại chất dẻo này. Cứ 2,5 kg sẽ có 1kg chất dẻo”. Bón phân rởm, sau 3 tháng, hạt phân vẫn trơ như sỏi đá.Ảnh: VOV. Còn tại huyện Krông Năng Đác Lắc, nhiều gia đình không thể thu hoạch cà-phê vì cà-phê bị héo lá do bón phải phân bón kém chất lượng. Vậy là, sau thời gian trồng trọt, chăm bón, mất bao công sức vất vả, tốn tiền của đầu tư về cây giống, phân bón, sức lao động... Cuối cùng người nông dân đành mất mùa, trắng tay chỉ vì nạn phân bón giả, phân bón kém chất lượng. Thông tin trên báo Dân dân, việc phân bón nhập lậu, kém chất lượng đang hoành hành trên thị trường không chỉ gây tác hại cho cây trồng, tốn bao mồ hôi, công sức của nông dân, mà còn làm rối loạn thị trường, thiệt hại nghiêm trọng đến các nhà sản xuất, phân bón khác. Theo lãnh đạo Cục Quản lý QLTT, Bộ Công thương, năm 2013, qua kiểm tra 4.689 vụ, lực lượng QLTT đã phát hiện tới 1.483 vụ vi phạm tăng 31% so với năm 2012, xử phạt hành chính 14,5 tỷ đồng, tịch thu 813.881 kg, 11.830 gói và 1.165 chai phân bón các loại. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 2014 lực lượng QLTT đã phát hiện xử lý 131 vụ vi phạm, xử phạt hành chính 1,32 tỷ đồng, thu giữ 110.442 kg, 10.107 gói phân bón. Các vụ vi phạm chủ yếu là kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng, phân bón quá hạn sử dụng, không thuộc danh mục được phép kinh doanh hoặc , tập trung nhiều các tỉnh như An Giang, Long An, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bến Tre, Bình Định, Đồng Nai... Chiếm tới 80% số vụ vi phạm phân bón giả trên cả nước. Không chỉ kinh doanh, vận chuyển phân bón giả, thời gian qua, trên thị trường còn xuất hiện loại phân bón là hàng thật với chất lượng thấp, như: Phân bón cao, phân bón NPK168... Khiến người nông dân hiểu nhầm. Theo phản ánh của các doanh nghiệp sản xuất phân bón lớn, những loại phân bón này có hàm lượng dinh dưỡng thấp, chỉ bằng 1/10 loại phân bón khác, trong khi giá bán vẫn xấp xỉ, hoặc thấp hơn từ 200 đến 2.000 đồng/kg với giá bán phân bón có thương hiệu. Chưa kể, trên thị trường còn xuất hiện nhiều loại phân bón với tên gọi khác như phân bón trung lượng, vi lượng... Khiến các cơ quan quản lý cũng không thể xử lý. Cách phân biệt phân bón thật-giả Phân Ka-li clo-rua KCl chứa 60% K2O Màu sắc đặc trưng: đỏ hồng, hồng nhạt, đỏ tím và màu trắng. Đây là loại phân chứa Ka-li phổ biến nhất, và cũng là loại phân bị lợi dụng làm giả, làm nhái nhiều nhất, gây tổn thất nặng nề nhất cho người nông dân do chênh lệch giá giữa hàng thật-hàng giả rất lớn, lại dễ làm giả. Nông dân dễ bị mua phải phân Ka-li giả do trên thị trường có các loại phân NKS, KNS, NPK… được một số nhà sản xuất cố tình làm rất giống phân Clo-rua Ka-li về mặt hình thức, nhất là màu đỏ đặc trưng của Kali, nhưng thực chất chỉ có từ 10-30 % là Ô-xit Ka-li, còn lại là phân SA, muối ăn, phẩm màu, bột sét đỏ. Đây là loại phân phải nhập khẩu 100%, do đó khi mua hàng, người nông dân cần yêu cầu đại lý: Bán cho loại phân Ka-li thật, có hàm lượng K2O ≥ 60%, sau đó phải xem bao bì có đúng là hàng nhập khẩu hay không. Các loại phân do các cơ sở trong nước sản xuất, trên bao bì không ghi hàm lượng K2O chiếm 60% thì đều là , hàng nhái. Khi mua hàng nên mang theo một chiếc cốc thủy tinh nhỏ, trắng và trong suốt cùng một ít nước sạch trong cốc. Thả một nhúm chừng 3-5 gam sản phẩm vào trong cốc nước có dung tích 50-100 ml để làm thực nghiệm và quan sát kết quả như sau: Cách thử: Cho 3-5 gam phân khô ráo vào cốc nước trong. Phân Kali clorua thật: - Cốc nước chưa có màu hồng đỏ - Một phần chìm xuống nước, một phần vẫn nổi trên mặt cốc nước - Sau khi khoắng mạnh, dung dịch chuyển sang màu hồng nhạt, không vẩn đục, có váng đỏ bám quanh thành cốc. Phân tan hết. Phân Kali clorua kém chất lượng: - Cốc nước lập tức có màu hồng đỏ - Toàn bộ phân chìm xuống và tan rất nhanh, - Sau khi khoắng mạnh, dung dịch có màu hồng đỏ, vẩn đục, không có váng đỏ bám quanh thành cốc. Có thể để lại cặn không tan hết. Phân bón giả bên trái và thật phải, không phải nông dân nào cũng biết. Phân Ka-li sunfat K2SO4 chứa 50% K2O: - Màu trắng, ở dạng hạt nhỏ hoặc bột, cũng là loại phân phải nhập khẩu, số lượng dùng không phổ biến, dễ bị làm giả khi trộn lẫn với bột đá vôi hoặc bột vôi sống, bột đất sét trắng. Cách phân biệt như sau: Cách thử: Cho 7-10 gam phân vào cốc nước trong. Phân Sun - phát Ka - li SOS thật: Tan hết trong nước, dung dịch có màu trong suốt. Phân giả: Có thể không tan hết, để lại cặn lắng bột đá hoặc dung dịch vẩn đục do huyền phù của vôi hoặc sét trắng. Phân U-rê: Có hai loại phân U-rê chính là loại hạt trong và hạt đục, cả hai loại đều có công thức hóa học và hàm lượng ni-tơ như nhau, tối thiểu là 46%. - Phân U-rê hạt trong: là loại phổ biến nhất, phân rất dễ tan, có màu trắng trong, dạng hạt tròn. Đây là loại phân rất khó làm giả, tuy nhiên đã xuất hiện loại kém chất lượng bằng cách trộn phân SA vào phân U-rê theo một tỷ lệ nhất định do phân SA rẻ hơn phân U-rê. Đặc điểm để nhận biết là phân U-rê thật chỉ có dạng hạt tròn, còn nếu có lẫn phân SA thì các hạt phân SA có dạng tinh thể, nhiều góc cạnh. Hiện nay nước ta chỉ có 2 nhà máy sản xuất được U-rê hạt trong là Đạm Hà Bắc và Đạm Phú Mỹ, còn lại là U-rê nhập khẩu. Do đó, phân U-rê của các cơ sở sản xuất khác ở trong nước đều là hàng giả. Vì vậy, bà con nông dân nên chọn mua 2 loại U-rê Hà Bắc và Phú Mỹ, hoặc U-rê trên bao bì có ghi rõ ràng nguồn gốc nhập khẩu. - Phân U-rê hạt đục: đây là loại phân rất tốt, phân có dạng hạt to, đường kính hạt 2- 4mm, cứng, màu trắng đục như sữa. Đây là loại phân phải nhập khẩu 100%, rất khó làm giả hoặc việc làm giả không đem lại lợi ích đáng kể. Bà con nông dân có thể an tâm khi mua và sử dụng loại phân này. Đối với các loại phân hỗn hợp NPK nói chung rất khó phân biệt được thật - giả và xác định được mức chất lượng bằng cảm quan thông thường mà phải dựa trên kết quả phân tích của các trung tâm phân tích. Kinh nghiệm chung để mua được đúng chủng loại và chất lượng các loại phân NPK là chọn mua sản phẩm của các công ty lớn, có uy tín trên thị trường, mua tại các đại lý bán hàng chính thức của các công ty đó. Ngọc Anh Tổng hợp. Làm thế nào để nhận biết, mua và sử dụng phân bón chất lượng để tránh thiệt hại khi vụ lúa HT đang vào mùa? NNVN có cuộc trao đổi với TS Chu Văn Hách, Viện Lúa ĐBSCL. TS Chu Văn Hách - Trưởng Bộ môn Phân bón và Kỹ thuật canh tác, Viện Lúa ĐBSCL Thưa ông, vì sao thời gian qua khuyến cáo sử dụng phân bón theo 4 đúng” vẫn chưa được nhiều ND hưởng ứng, tuân thủ? Trong các loại vật tư đầu vào, phân bón được nông dân đặc biệt quan tâm vì nó gia tăng năng suất cao nhất. Tuy nhiên phân bón chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất khi áp dụng theo 4 đúng” nghĩa là bón đúng loại, đúng liều lượng, đúng thời gian và đúng phương pháp, hay nói một cách khác là bón phân theo nhu cầu của cây”. Vấn đề nông dân chưa áp dụng rộng rãi theo 4 đúng, nguyên nhân chính là họ còn quá lạm dụng phân bón, đặc biệt là phân đạm. Việc sử dụng phân đơn urê + DAP/lân + kali để tự phối trộn thì chi phí sẽ thấp hơn so với bón phân hỗn hợp NPK. Nhưng việc sử dụng phân đơn ngày càng bộc lộ các mặt trái vì chỉ có số ít nông dân có trình độ mới phối trộn được tỷ lệ thích hợp. Còn đại đa số vẫn chưa tính toán được tỷ lệ phối trộn phù hợp theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây, nên dẫn tới tình trạng là thừa loại này nhưng lại thiếu loại khác, hiệu quả đầu tư phân bón không cao. Xu hướng sử dụng phân bón của các nước trên thế giới trong giai đoạn hiện tại thường thiên về SX và sử dụng các loại phân thế hệ mới như phân hỗn hợp NPK chuyên dùng. Loại phân này có bổ sung các chất trung, vi lượng hoặc phối trộn với một số hóa chất để giảm thất thoát và nâng cao hiệu quả sử dụng phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cây và loại đất. Ưu điểm là thuận tiện và dễ dàng cho người sử dụng, nếu bón dư chút ít cũng không bị ảnh hưởng do dư thừa phân đạm như khi bón phân đơn. Mặt khác, phân chuyên dùng này sẽ cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cần thiết cho cây theo từng giai đoạn sinh trưởng. Cây sẽ phát triển cân đối và tốt hơn do vậy sẽ tăng sức đề kháng với sâu bệnh hại. Gần đây, phân bón NPK chuyên dùng thế hệ mới của VN đang theo xu thế chung của thế giới, vì hiệu quả, tiện lợi và khắc phục được những nhược điểm của bón phân đơn. Thực tế vụ lúa HT ở ĐBSCL, nôgn dân thường sử dụng phân bón như thế nào? Ông có ý kiến nhận xét gì? Vụ HT ở ĐBSCL do điều kiện thời tiết bất lợi ngay từ đầu vụ như nắng nóng, nhiệt độ cao, pH đất thấp nên lân bị các cation sắt, nhôm cố định, thời vụ cập rập nên thường gặp ngộ độc hữu cơ…do đó cây lúa kém phát triển ngay từ đầu vụ. Phần lớn nông dân không biết rõ nguyên nhân lúa vì sao không phát triển được. Hễ thấy lúa không phát thì suy nghĩ đầu tiên của họ là bón thêm phân đạm. Thực tế nông dân bón lượng đạm ở vụ HT còn cao hơn so với vụ ĐX, nhưng lại ít quan tâm tới bón tăng lượng lân. Trong khi vụ HT đất thường thiếu lân. Một điều nghịch lý là nông dân sử dụng dư phân đạm, đến khi cây lúa quá tốt thì họ lại sử dụng kali để bón thêm nhằm hạn chế đổ ngã và hạn chế sâu bệnh. Kiểu bón phân như vậy không hiệu quả, vì đã tốn tiền do bón dư đạm rồi lại tốn thêm tiền bón kali để giải độc cho cây. Trong vụ HT năng suất lúa chỉ bằng 70% thậm chí là 50% so với vụ ĐX. Trong điều kiện bình thường để SX được 1 tấn lúa thì cây phải hút và tích lũy được 15 kg N + 2,6 kg P và 15 kg K, vậy thì lượng phân bón cho lúa ở vụ HT sẽ thấp hơn so với vụ ĐX. Tuy nhiên, do vụ HT có nhiều yếu tố trong đất ngộ độc phèn, hữu cơ cản trở sinh trưởng phát triển của cây lúa nên cần phải có giải pháp hạn chế các yếu tố này ngay từ đầu vụ như dùng nước rửa ruộng nhiều lần, bón vôi và lân sớm với lượng cao hơn hoặc sử dụng các dạng lân có phối trộn với hoạt chất Avail để hạn chế sự cố định lân của sắt nhôm. Đối với vụ HT nên bón nặng lân ở đầu vụ một mặt cung cấp thêm lân cho cây phát triển bộ rễ, mặt khác giúp tăng pH, lượng đạm nên giảm so với vụ ĐX. Tác dụng phân bón NPK trên đất phù sa và tùy theo từng tiểu vùng ở ĐBSCL cho thấy nên sử dụng phân như thế nào cho đúng? Đối chứng nhận, phân bón với lúa ở ĐBSCL phân bón chủ yếu là các nguyên tố đa lượng N- P-K dung để bón xuống đất, còn tỷ lệ giữa các dưỡng chất này phụ thuộc vào từng tiểu vùng khác nhau ví dụ cũng là vùng phù sa nhưng vùng phù sa đầu nguồn một phần của An Giang và một phần của Đồng Tháp nằm cặp 2 sông Tiền và Hậu bón khác so với vùng phù sa Tây sông Hậu. Tuy nhiên có một điểm chung là kali không có tác dụng làm tăng năng suất lúa kể cả trên đất phù sa và đất phèn. Do đó kali chỉ cần đầu tư ở mức thấp để duy trì và ổn định kali trong keo đất. Dù vậy, nếu bón kali ở mức cao sẽ hạn chế khả năng hút một số nguyên tố trung và vi lượng khác thậm chí là hạn chế cả khả năng hút đạm của cây vì kali có tính đối kháng ion. Trong vụ HT, công thức phân bón cho 1 ha vùng phù sa đầu nguồn là: 70 - 90 kg N + 40 - 50 kg P2O5 + 20 - 30 kg K2O; Tương ứng với vùng phù sa Tây sông Hậu là: 60 - 80 kg N + 40 - 60 kg P2O5 + 20 - 30 kg K2O. Tuy nhiên đây chỉ là công thức chung không thể áp dụng cho tất cả các chân ruộng, mà cần có sự điều chỉnh sao cho phù hợp với đồng ruộng của mình. Lưu ý vào giai đoạn bón phân đợt 2 18 - 25 ngày sau sạ và đợt 3 38 - 45 ngày sau sạ nên quan sát màu lá tốt nhất là sử dụng bảng so màu lá để quyết định lượng phân đạm cho phù hợp, nếu lá xanh đậm thì giảm đạm, là vàng thì tăng thêm đạm. Gần đây, tình trạng phân bón kém chất lượng báo động, có tới 50% phân NPK 20-20-15 kém chất lượng hàm lượng dinh dưỡng không như công bố, thậm chí SX phân giả, nhất là các loại phân hữu cơ, phân bón lá, phân vi sinh… Làm thế nào để nông dân nhận biết, tránh rơi vào ma trận” hàng giả và kém chất lượng? Tình trạng phân bón kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái tràn lan làm cho nông dân hoang mang không biết đâu là phân thật đâu là phân giả. Cả vụ canh tác cây trồng nếu chọn không đúng vật tư đầu vào sẽ ảnh hưởng rất lớn tới thu nhập. Trong lúc chờ đợi Nhà nước có biện pháp chế tài mới xử lý hàng giả, bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, chúng tôi xin khuyến cáo bà con lưu ý khi chọn và mua phân bón: Nên chọn các loại phân bón với thương hiệu trên thị trường được SX từ các Cty có uy tín và chọn các đại lý có uy tín thì quyền lợi của nông dân mới được đảm bảo. Xin cảm ơn ông!. Nông dân luôn tin tưởng, lựa chọn sản phẩm của các DN uy tín, có thương hiệu .


Dự kiến phải nhập 2,47 triệu tấn phân bón các loại với dự kiến ngoại tệ lên đến hơn 960 triệu USD, trong đó đạm SA là 850 nghìn tấn, phân DAP 570 nghìn tấn, 950 nghìn tấn phân kali và khoảng 100 nghìn tấn NPK. Phạm Anh. Phải thừa nhận, nông nghiệp thế giới không thể tăng 4 lần sản lượng trong 50 năm qua nếu không có phân hóa học và phân hóa học đã trở thành một trong các yếu tố cơ bản để nâng mức sống ở các nước văn minh. Tuy nhiên, nếu sử dụng phân hóa học không hợp lý sẽ vừa gây lãng phí, thậm chí để lại những hệ lụy khó lường. Sử dụng phân bón đúng cách giúp tăng năng suất cây trồng 45-50% THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHÂN BÓN Theo số liệu của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế IRRI, Tổ chức Nông lương thế giới FAO và Ban Lúa gạo quốc tế IRC tổng kết, bón phân đồng bộ và cân đối có thể tăng năng suất cây trồng từ 45-50%. Ở VN, hiệu suất sử dụng phân bón chỉ vào khoảng 35-40%, nghĩa là chỉ có khoảng 35-40% lượng phân bón cây trồng sử dụng được, còn lại 60-65% bị mất đi. Có thể làm một bài toán như sau, nhu cầu sử dụng phân bón của nước ta năm 2010 là 8,9 triệu tấn, như vậy lượng mất đi vào khoảng 5,3-5,7 triệu tấn, chưa kể những hệ lụy gây ra cho cuộc sống con người và môi trường. Vậy, làm thế nào để tăng hiệu quả sử dụng phân bón trong SX nông nghiệp? Đầu tiên, phải tạo cho nông dân thói quen nhận thức mới về phân bón và các chất dinh dưỡng. Trước đây, ta thường lấy chỉ tiêu hàm lượng 3 chất dinh dưỡng chính là đạm N, lân P2O5, kali K2O để đánh giá chất lượng phân bón. Trong nhiều năm, chúng ta chỉ khuyến cáo nông dân bón đủ 3 chất dinh dưỡng N,P,K cho cây trồng cùng với phân hữu cơ. Song việc sử dụng các loại phân hữu cơ ngày càng ít được coi trọng và nông dân coi việc sử dụng phân hóa học như biện pháp cứu cánh để đạt năng suất cao, đã gây nên sự mất cân bằng các chất trong đất, làm cho đất cạn kiệt, chai cứng... Đến một lúc nào đó, lượng phân bón tăng lên rất lớn nhưng năng suất cây trồng không tăng, thậm chí giảm, đồng thời gây ra bao hệ lụy khác như hiện tượng lốp đổ, cháy lá, đạo ôn, khô vằn, sâu bệnh... Làm giảm năng suất và chất lượng nông sản, gây ô nhiễm môi trường. Ngày nay, mọi người đã biết 3 chất trên không phải là tất cả, khoa học đã chứng minh, có đến 16 nguyên tố được coi là chất dinh dưỡng tác động đến đời sống, sự sinh trưởng và năng suất của cây trồng. Mỗi chất có một tác dụng khác nhau và sự thiếu hụt bất cứ chất nào cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh tật và suy giảm năng suất. Trong đó, ngoài các chất đa lượng như đạm N, lân P, kali K, còn có ít nhất 13 chất trung và vi lượng rất cần thiết khác như canxi CaO, magie MgO, silic SiO2, lưu huỳnh S, đồng Cu, Bo B, kẽm Zn… Từ nhận thức mới này, rõ ràng sự sinh trưởng và phát triển, cuối cùng là năng suất của cây trồng không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào 3 nguyên tố N, P, K mà phụ thuộc vào 16 nguyên tố trên với các tác động qua lại phức tạp. BÓN PHÂN CÂN ĐỐI NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỚI 50% Nhà bác học người Đức, ông Liebig vào năm 1884 đã phát hiện ra cơ sở để xác định được sự cân đối dinh dưỡng với một loại cây trồng chính là định luật tối thiểu. Nội dung định luật này có thể tóm tắt là: Tất cả các loại đất đều có chứa một nguyên tố với khối lượng lớn và một hay vài yếu tố với lượng ít hoặc rất ít và chính các yếu tố tối thiểu này sẽ quyết định năng suất. Bất cứ một chất nào trong 16 dinh dưỡng cần cho cây trồng dù chỉ thiếu với lượng nhỏ nhất cũng sẽ hạn chế sự sinh trưởng của cây. Chính vì vậy, nên sử dụng loại phân bón cùng lúc cung cấp đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng trên. Đất nông nghiệp canh tác tại VN hầu hết là đất chua trên 80%, vùng ven biển đất bị nhiễm phèn, mặn, còn lại là địa hình đồi dốc dễ bị xói mòn. Hầu hết các loại phân hóa học đều chứa gốc axit, khi bón xuống ruộng làm cho đất bị chua thêm. Để khử độ chua cho đất ta thường khuyến cáo nông dân bón thêm vôi; điều này sẽ làm tăng chi phí bón phân, đặc biệt khi bón vôi cùng phân bón sẽ gây các phản ứng phụ làm mất dinh dưỡng, giảm hiệu quả của phân. VN là nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, nắng lắm mưa nhiều, đồng ruộng trũng bị ngập nước, phần đồi dốc phân dễ bị bay hơi và bị rửa trôi. Để tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng trong phân bón, rất cần những loại phân chậm hoặc không tan trong nước, chỉ tan trong môi trường axit do rễ cây tiết ra; như vậy loại bỏ được hiện tượng dinh dưỡng bị cố định và rửa trôi, hiệu quả sử dụng có thể tăng lên đến trên 90%. Bên cạnh đó, chất lượng nông sản phụ thuộc rất lớn vào việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng có đầy đủ và cân đối hay không. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng bón phân cân đối làm tăng hàm lượng protein trong hạt ngũ cốc, tăng hàm lượng các vitamin trong rau và hoa quả, tăng hàm lượng đường trong mía và làm hình dáng, màu sắc nông sản hấp dẫn hơn. Phân lân Văn Điển là loại phân khoáng tự nhiên đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của đồng đất nước ta, với thành phần chủ yếu là Ca2 PO42 nên Văn Điển không phải là phân hóa học, không tan trong nước, chỉ tan được trong môi trường axit do rễ cây tiết ra nên không bị rửa trôi, không gây ô nhiễm môi trường nên thích hợp với việc canh tác nông sản sạch, nông sản hữu cơ. Đặc biệt, phân bón Văn Điển có tính kiềm, pH = 8-8,5 nên có tác dụng khử chua, rất thích hợp với ruộng chua, mặn phèn, đất đồi núi bạc màu ở các quốc gia có khí hậu nhiệt đới. Ở các nước tiên tiến như Nhật Bản, Đài Loan, Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ… phân lân nung chảy như của Văn Điển được liệt vào danh mục phân khoáng thiên nhiên thân thiện môi trường Friendly Environment và nhập khẩu nhiều dùng trong canh tác nông sản hữu cơ. Cty CP Phân lân Văn Điển đang cung cấp cho thị trường trên 60 loại phân bón chuyên dùng cho từng loại đất, từng loại cây trồng theo từng thời điểm sinh trưởng. Sản phẩm phân chuyên dùng Văn điển SX trên nền lân Văn Điển đều chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng cung cấp đồng thời, cân đối cho cây trồng. Lân Văn Điển là loại phân khoáng thiên nhiên không phải là phân hóa học nên thích hợp với việc canh tác nông sản sạch theo VietGAP, Global GAP. Phân bón Văn Điển có mặt đầy đủ 16 chất dinh dưỡng đa lượng N,P,K, trung lượng S, Mg,Ca, Si và các chất vi lượng như Fe, Mn, Cu, Zn Mo, Co, B… Tổng thành phần dinh dưỡng lên đến trên 95% và đều không tan trong nước, chỉ tan trong môi trường do rễ cây tiết ra nên không bị rửa trôi, cung cấp cùng một lúc đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng một cách cân đối, nên hạn chế được sâu bệnh, lốp đổ; tiết kiệm chi phí do không phải sử dụng thuốc BVTV, nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ nguồn nước, không gây ô nhiễm môi trường. Mỗi yếu tố trong phân lân Văn điển đều có tác dụng tăng độ phì rất cao. Từng chất dinh dưỡng của phân FMP đều không tan trong nước nhưng lại tan tốt trong axít yếu, trong đất hoặc do rễ cây tiết ra. Chính vì vậy, phân lân Văn Điển rất tiện lợi trong việc sử dụng và có thể dự trữ được lâu vì phân không hút ẩm, không biến chất ngay cả khi bị ẩm hay bị nung nóng dưới 500 độ C nên khi bón nó nằm trong đất và vẫn tiếp tục cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng. Trong khi các loại phân khác dễ hòa tan trong nước như supe photphat, photphat amon hiệu quả ngay nhưng dễ dàng bị nhôm chung nhan, phan bon trong đất cố định lại nên bị mất hiệu lực nhanh. : Tác giả hiện là TGĐ Cty CP Phân lân Văn Điển. Dự án có tổng diện tích đất sử dụng là 20 ha, với số vốn đầu tư lên tới 294,85 tỷ đồng. Mục tiêu của dự án là xử lý chất thải rắn để sản xuất phân bón hữu cơ, vi sinh và các sản phẩm plastic hỗn hợp với công suất lên tới 400 tấn rác/ngày. Dự kiến dự án sẽ được khởi công vào thời gian đầu năm 2010. Xứng đáng là vai trò đầu tàu của ngành phân bón ° Ông có thể nói ngắn gọn về tính hiệu quả của Nhà máy Đạm Phú Mỹ kể từ khi được đưa vào vận hành sản xuất đến nay? - Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng: Tháng 9-2004, sau một thời gian ngắn chạy thử, Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã chính thức được bàn giao cho PVFCCo quản lý, vận hành và kinh doanh sản phẩm, với sản lượng đạt 740.000 tấn/năm, xác lập vai trò là một doanh nghiệp quy mô hàng đầu trong sản xuất, kinh doanh phân bón. Sự tham gia thị trường của PVFCCo đã thổi vào ngành phân bón một luồng gió mới, với tác động tích cực và đem lại sự thay đổi, đáp ứng những kỳ vọng của Chính phủ khi phê duyệt dự án. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử thị trường phân đạm, nguồn cung ứng đã có sự tham gia của hàng sản xuất trong nước với một tỷ lệ thị phần cao, chất lượng đảm bảo và giá cả phù hợp. Trong giai đoạn 2005-2010, các hoạt động sản xuất, kinh doanh của PVFCCo đã được triển khai và gặt hái được những kết quả rất tốt. Năm 2005, 2006 đạt sản lượng 80%-90% theo thiết kế, đặc biệt trong 3 năm 2007-2009 đã sản xuất hơn 750.000 tấn urê, vượt sản lượng thiết kế/năm đồng thời thực hiện công tác nhập khẩu phân bón. Năm 2010, dự kiến sản lượng sản xuất và cung ứng cũng sẽ đạt từ 750.000 đến 1 triệu tấn. Về mặt thị trường, mạng lưới các đại lý và cửa hàng bán lẻ do các đơn vị thành viên của PVFCCo phát triển đã đạt con số trên 2.000 cửa hàng trên khắp các vùng miền trên cả nước. Tham gia vào khâu phân phối sâu rộng, PVFCCo hướng tới mục tiêu gia tăng chuỗi giá trị và phục vụ bà con nông dân một cách hiệu quả nhất.° Xin ông nói rõ hơn về vai trò của PVFCCo trong quá trình bình ổn thị trường phân bón?-Trong nửa đầu năm 2008, trước tình hình giá cả thị trường bất ổn, liên tục tăng cao, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và PVFCCo đã có những chỉ đạo để PVFCCo thể hiện vai trò của mình mạnh hơn nữa trong chương trình hành động kiềm chế lạm phát và bình ổn thị trường với những mục tiêu cụ thể: Tổ chức sản xuất an toàn và đạt tối đa sản lượng phân đạm, đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu phân bón, tăng tổng nguồn cung ứng phân bón của PVFCCo lên trên 1 triệu tấn/năm, tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩm sản xuất và nhập khẩu hợp lý, hiệu quả nhằm đưa sản phẩm đến các cửa hàng và bán cho bà con nông dân với giá niêm yết, thấp hơn giá nhập khẩu từ thị trường thế giới, nhằm hạn chế tình trạng mua bán qua nhiều tầng nấc trung gian. Năm 2008 PVFCCo đã đưa ra thị trường trong nước 741.000 tấn urê DPM và gần 200.000 tấn phân bón nhập khẩu. Tại các thời điểm giá cả tăng cao, nguồn cung DPM do PVFCCo sản xuất và lượng hàng nhập khẩu thường trực nhập về tại các kho luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu, đã giúp kiềm chế đà tăng giá bán phân bón trong nước, cụ thể là có thời điểm giá urê thị trường thế giới lên tới 13.000-14.000 đồng/kg thì giá bán DPM thấp hơn tới gần 40%. Mức giá bán công bố của PVFCCo đã bao gồm chi phí vận chuyển, bảo hiểm và chiết khấu cho các đại lý, cửa hàng. Đánh giá về tác dụng bình ổn giá của DPM, PVFCCo đã thống kê, theo dõi diễn biến thị trường từ cuối năm 2007 đến thời điểm sốt giá phân bón năm 2008 và thấy rằng giá bán của DPM có tăng theo xu thế chung của thị trường nhưng mức tăng giá thấp hơn mức tăng giá của urê nhập khẩu và nhiều loại phân bón khác. Nếu tính từ thời điểm xa hơn từ đầu năm 2007, thì mức tăng giá của DPM là thấp nhất trong thị trường phân bón. Điều đó cho thấy sự tham gia của DPM đã góp phần tích cực cho thị trường. Tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trên thị trường phân bón.° Theo ông nhu cầu về phân bón trong giai đoạn 2010-2020 sẽ như thế nào? Và khả năng đáp ứng của PVFCCo ra sao?- Chính phủ và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã quyết tâm đầu tư dự án bằng nội lực với mục tiêu và tầm nhìn chiến lược là đảm bảo an ninh lương thực về dài hạn cho đất nước. Phát huy thành quả từ dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ, ngành dầu khí Việt Nam tiếp tục đầu tư xây dựng Nhà máy Đạm Cà Mau với công suất tương đương, dự kiến đi vào sản xuất từ quý 1 năm 2012. Công tác quản lý, vận hành và kinh doanh phân phối sản phẩm của Nhà máy Đạm Cà Mau sẽ được giao cho PVFCCo đảm trách, với mục tiêu là sản phẩm phân đạm, một trong các sản phẩm chính của ngành dầu khí cung cấp cho đất nước, được cung ứng bởi hệ thống thống nhất của PVFCCo. Theo dự kiến, năm 2012, dự án Nhà máy Đạm Cà Mau đi vào sản xuất. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã có chủ trương giao cho PVFCCo quản lý, vận hành và tổ chức kinh doanh, phân phối sản phẩm của nhà máy. Như vậy, đối với thị trường trong nước, PVFCCo tiếp tục khẳng định vai trò của nhà sản xuất và cung ứng phân đạm lớn nhất: 1.600.000 tấn ure/năm, có khả năng đáp ứng tới 80% nhu cầu thị trường trong nước. Năm 2013, dự kiến nhà máy sản xuất phân NPK chất lượng cao của PVFCCo cũng sẽ hoàn thành với khả năng cung ứng 400.000 tấn/năm, đáp ứng 15% nhu cầu thị trường.° Như vậy trong vòng 10 năm tới, PVFCCo sẽ tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trên thị trường phân bón?-Với năng lực sản xuất như trên, rõ ràng là vai trò của PVFCCo đối với nông nghiệp tiếp tục được phát huy và khẳng định. Nếu như trong giai đoạn 2005-2010, sản phẩm đạm Phú Mỹ thể hiện vai trò của nhân tố mới trong thị trường, thì giai đoạn này, PVFCCo đóng vai trò của đơn vị sản xuất nòng cốt trong hoàn cảnh có nhiều nhà sản xuất phân đạm trong nước cùng với sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất của PVFCCo trong giai đoạn vừa qua đã khẳng định năng lực của PVFCCo trong việc tổ chức vận hành 2 nhà máy đạm lớn có quy mô và công nghệ tương đương sẽ được đảm bảo. Khả năng sản xuất và cung ứng 1,6 triệu tấn đạm mỗi năm là điều gần như chắc chắn.PVFCCo sẽ cung cấp phân đạm với 2 dòng sản phẩm: ure hạt trong prill của Nhà máy Đạm Phú Mỹ và sản phẩm ure hạt đục granular của Nhà máy Đạm Cà Mau, chất lượng đạt các tiêu chuẩn sản phẩm của các nhà máy đạm công nghệ hàng đầu trên thế giới từ nguồn nguyên liệu khí thiên nhiên. Về giá cả, đạm Phú Mỹ và đạm Cà Mau được sự bảo đảm nguồn nguyên liệu là khí thiên nhiên từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với giá cả hợp lý, quản lý sản xuất hiệu quả, sẽ đảm bảo duy trì giá thành sản xuất ở mức độ cạnh tranh trước sản phẩm nhập khẩu.Vai trò của PVFCCo đối với nền nông nghiệp đất nước, chính là biểu hiện điển hình cho mục tiêu thực hiện chính sách đưa sản phẩm công nghiệp từ nguồn nguyên liệu của ngành dầu khí để sản xuất phân bón phục vụ nền nông nghiệp, tăng cường mối liên kết và làm cầu nối liên minh công nông, thực hiện chính sách tam nông của Đảng và Nhà nước. PVFCCo tiếp tục khẳng định vai trò trên trong chiến lược phát triển của mình trong thời gian tới, với những thế mạnh trong khâu sản xuất, khâu phân phối. Thủy Mai .. Phân bón của PVFCCo được xuất khẩu sang Myanmar. Ảnh: PVFCCo. Tây Nguyên là khu vực có diện tích cây công nghiệp lớn, do vậy nhu cầu về sử dụng phân bón dịp này cũng rất lớn. Từ đó có rất nhiều công ty, tổ chức, cá nhân đưa phân bón vào đây tiêu thụ với 2 dạng phân bón chính là hóa học và phân bón vi sinh. Theo quan sát, hiện trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk có hàng trăm loại phân bón sản xuất trong nước được bày bán, đó là chưa kể các loại phân NK từ Trung Quốc, Nhật Bản. Các sản phẩm này được cung ứng đến tận các vùng nông thôn thông qua các đại lý, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của bà con nông dân. Trên địa bàn Tây Nguyên có hàng trăm loại phân bón, khiến bà con nông dân khó lựa chọn Trong vai người đi mua phân bón, tìm hiểu qua đại lý, chúng tôi đươc chị Sương, chủ cửa hàng kinh doanh phân bón ở huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk cho biết: Nhìn chung năm nay thị trường phân bón ở đây ổn định, giá cả không tăng… Hiện tại cửa hàng nhà tôi có tới vài trăm loại phân bón với đủ nhãn mác khác nhau, phân sản xuất trong nước hay phân NK nước ngoài cũng có. Anh muốn mua loại phân bón nào. Những năm trước vào đầu mùa chăm sóc cây trồng, bà con nông dân Tây Nguyên thường mua phân bón về tạm trữ vì sợ giá cả leo thang, năm nay nguồn cung dồi dào, giá cả ổn định nên bà con phần nào yên tâm hơn, không cần tạm trữ. Cụ thể, giá phân DAP China hạt xanh bao tiếng Anh có giá 12.800 đ/kg; phân DAP China hạt nâu tiếng Anh giá 10.600 đ/kg; UREA China hạt trong 8.900 đ/kg; UREA China hạt đục 8.950 đ/kg; UREA Phú Mỹ hạt trong 8.100 đ/kg; Kali Israel hạt 8.550 đ/kg; Kali Russia bột màu đỏ 8.100 đ/kg; SA Japan trắng 4.300 đ/kg; SA China hạt nhuyễn 3.200 đ/kg… Đi liền với niềm vui về nguồn phân bón dồi dào cũng là nỗi lo của nông dân. Ông Trần Văn Tỏa ở thôn 8, xã Ea B’hôk, huyện Cư Kuin Đăk Lăk chia sẻ: Gia đình có hơn 2 ha cà phê mới thu hoạch xong trước Tết, đến thời điểm này tôi đang tiến hành tưới nước đợt 2 và bón phân, chăm sóc, cải tạo vườn cho kịp niên vụ sau. Tuy nhiên, năm nay về chủng loại phân bón trên thị trường đa dạng quá, không biết nên lựa chọn loại nào là hợp lý và không mua phải phân bón giả, kém chất lượng…. Phân bón giả Ảnh internet 5 lít nước+ vài thìa ure bột = phân ure đậm đặc Phân bón nhái nhãn mác thường được làm ở một số công ty, tổ hợp nhỏ lẻ nơi vùng sâu, vùng xa. Một số cơ sở ở tỉnh Bình Thuận, Bình Dương, Bình Phước, Đắc Nông, Đồng Nai, Hải Phòng, Phú Yến, Thanh Hóa… bị phát hiện đã in nhãn mác của các công ty có thương hiệu. Trong đó, trên bao bì ghi tổng hàm lượng dinh dưỡng 53%, nhưng khi cơ quan chức năng kiểm định thì phát hiện tổng hàm lượng dinh dưỡng chỉ có... 2,99%... Còn đối với loại phân bón ure nước, một số cơ sở đã sản xuất theo công thức: pha 5 lít nước với vài thìa canh ure bột. Sản phẩm này được đưa ra thị trường với giá 50.000 đồng/can 5 lít và quảng cáo cho nông dân đây là phân ure đậm đặc. Còn công dụng được "đẩy" đến mây xanh: làm cho đất tốt, năng suất cao và kết hợp chống... Hạn. Kết quả, sản phẩm chống hạn dỏm này được tiêu thụ mạnh trong mùa hè ở khu vực Tây Nguyên, Phú Yên, Yên Bái… Còn hậu quả là nhiều cây trồng của nông dân đã bị chết hoặc không phát triển được. Độc chiêu hơn, để tạo niềm tin cho nông dân, nhiều cơ sở sản xuất phân bón giả đã thông qua giới thiệu của Hội nông dân để tiếp cận người dân hoặc tổ chức hội thảo, tặng sản phẩm... Đẩy mạnh công tác giám sát, tuyên truyền Thống kê cho thấy, tình hình vi phạm sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng ngày càng diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi. Trong năm 2012 và Chứng nhận, phân bón 6 tháng đầu năm 2013, lực lượng Quản lý thị trường QLTT cả nước đã kiểm tra 5.372 vụ, xử lý 1.390 vụ với tổng số tiền phạt 17,2 tỷ đồng và tịch thu 917 tấn phân bón các loại. Nhiều vụ sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng với quy mô và số lượng lớn đã được Cục QLTT chuyển hồ sơ sang cơ quan Cảnh sát điều tra để xử lý. Bên cạnh đó, còn phát hiện nhiều trường hợp phân bón kém chất lượng nhập khẩu từ Trung Quốc đã làm giả các thương hiệu phân bón của Việt Nam. Tiêu hủy phân bón giả Ảnh internet Để chống nạn kinh doanh, sản xuất phân bón nhái, giả, Ông Đỗ Thanh Lam - Phó Cục Trưởng Cục QLTT, cho rằng: "Cần làm tốt công tác dự báo, nắm chắc diễn biến thị trường và làm rõ các phương thức, thủ đoạn của các đối tượng vi phạm. Từ đó rút ra các quy luật hoạt động của các cơ sở này, để có các phương án kiểm tra, kiểm soát hiệu quả”. Còn theo đại diện Cục Cảnh sát Kinh tế - Bộ Công An thì Cục Cảnh sát kinh tế với Hiệp hộp phân bón, Cục hóa chất, Cục Trồng trọt, Cục QLTT cần tăng cường phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện, ngăn chặn, và xử lý vi phạm kịp thời. Đồng thời, tuyên truyền để nông dân phân biệt phân bón thật, giả và tác hại của phân bón giả. Nguyễn Cẩm. > Bắt giữ 800 tấn phân bón nhái nhãn hiệu > Bắt giữ 800 tấn phân bón nhái nhãn hiệu Tối ngày 23/6, đoàn kiểm tra liên ngành TP.HCM gồm đại diện Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ - PC15, Công an TP.HCM và lực lượng QLTT quận Tân Phú đã tiến hành kiểm tra cơ sở Khang Huy ở địa chỉ 74 đường Tô Hiệu, phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú.Tại hiện trường, các lực lượng chức năng phát hiện cơ sở này đã nhập 77 tấn phân bón từ nước ngoài, có nhãn gốc bằng tiếng nước ngoài mà không có nhãn phụ bằng tiếng Việt và không có nhãn hàng hóa. Mặt khác, có hơn 66 tấn phân bón được đóng bao từ 25 kg đến 50 kg không ghi nhãn mác hàng hóa. Theo giấy phép đăng ký kinh doanh được cấp ngày 23/4/2007, thì chức năng chủ yếu của cơ sở Khang Huy là mua bán muối sulfate natri, phân bón nông nghiệp.Cùng thời điểm, lực lượng chức năng còn phát hiện các phương tiện dùng để đóng gói và các loại bao nhựa được ghi nhãn mác như: 14 cái bao nhựa in nhãn UREA của công ty TNHH một thành viên Minh Phú tại số 39 đường Nguyễn Văn Cừ, phường 1, tỉnh Sóc Trăng; 26 kg bao nhựa in nhãn Potassium sulfate made in Korea và 28 kg bao nhựa in nhãn Potassium sulfate, đóng gói tại doanh nghiệp tư nhân Hiệp Tiến Phát tại số 554 đường Minh Phụng, phường 1, quận 11, TP.HCM và 800 kg bao nhựa trắng không in chữ.Đội trưởng Đội QLTT quận Tân Phú, ông Phạm Thanh Bình, cho biết: Do toàn bộ các sản phẩm phân bón và phương tiện mà đoàn kiểm tra phát hiện, chủ cơ sở Khang Huy đã không xuất trình được các giấy tờ chứng minh có liên quan, nên trước mắt đoàn kiểm tra đã tiến hành lập biên bản và tạm giữ số tang vật này. Theo nhận định của đại diện đội QLTT quận Tân Phú thì cơ sở Khang Vinh có dấu hiệu sản xuất phân bón trái phép, làm giả sản phẩm của nước ngoài và kinh doanh phân bón nhập lậu. Cơ sở Khang Huy do ông Từ Huệ Quang đứng tên trên giấy đăng ký kinh doanh, vợ là bà Nguyễn Thị Phương Loan cũng chính là chủ của cơ sơ sản xuất phân bón Vinh Quang mà PC 15 và QLTT TP.HCM đã tiến hành kiểm tra và bắt quả tang việc kinh doanh và sản xuất phân bón nhái nhãn hiệu vào chiều cùng ngày.Được biết, toàn bộ các sản phẩm phân bón của cơ sở Khang Huy thường được phân phối đến chợ Kim Biên để tiêu thụ.Hiện các CQ chức năng đang tiến hành mở rộng điều tra, phát hiện thêm một số các cơ sở thuộc đường dây sản xuất và kinh doanh phân bón nhái nhãn hiệu đóng trên địa bàn TP.HCM.Việt Dũng .


III. Chứng nhận hợp quy phân bón|hợp quy phân bón|VietGAP trồng trọt|chứng nhận hệ thống ISO|chứng nhận hợp quy phân vô cơ|hợp quy phân bón vô cơ|khảo nghiệm phân bón|chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng|VietGAP chăn nuôi|Công bố hợp quy phân bón|chứng nhận ISO 14001|Chứng nhận ISO 9001|Chứng nhận hợp chuẩn hợp quy|VietGAP chăn nuôi|Tổ chức chứng nhận ISO 9001|Chứng nhận VietGAP trồng trọt thủy sản|Công bố hợp quy phân bón vô cơ|Công bố Chất lượng sản phẩm phân bón|Cấp giấy phép sản xuất phân bón|Khảo nghiệm phân bón vô cơ|Khảo nghiệm phân bón hữu cơ Giấy chứng nhận hợp quy cấp cho sản phẩm của công ty Thanh Hà


Dự kiến phải nhập 2,47 triệu tấn phân bón các loại với dự kiến ngoại tệ lên đến hơn 960 triệu USD, trong đó đạm SA là 850 nghìn tấn, phân DAP 570 nghìn tấn, 950 nghìn tấn phân kali và khoảng 100 nghìn tấn NPK. Phạm Anh. Hình minh họa Tăng xuất, giảm nhập Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn NN&PTNT dự báo, năm 2013 cả nước cần khoảng 10,3 triệu tấn phân bón các loại. Trong đó chúng ta chỉ phải nhập khẩu gần 2,5 triệu tấn, giảm khoảng 1,5 triệu tấn so với năm 2012 do nguồn phân bón sản xuất trong nước tăng. Cụ thể, theo tính toán của Bộ NN&PTNT, trong số gần 2,5 triệu phân bón nhập khẩu, có 850.000 tấn SA, 570.000 tấn DAP và 950.000 tấn kali và 100.000 tấn NPK. Riêng phân ure, chúng ta không nhập vì nguồn cung trong nước đáp đã ứng đủ nhu cầu tiêu thụ, thậm chí còn đang hướng đến xuất khẩu. Theo thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, tính đến hết 11 tháng năm 2012, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,182 triệu tấn phân bón các loại, bằng 127% so với cùng kỳ năm 2011. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là phân urê và NPK. Với nhu cầu phân đạm cả nước chỉ khoảng 2 triệu tấn/năm trong khi năng lực sản xuất phân urê của các nhà máy trong nước sẽ ở ngưỡng 2,6 triệu tấn vào năm nay, việc đẩy mạnh xuất khẩu, tìm kiếm khách hàng và thị trường quốc tế là yêu cầu bắt buộc với mỗi DN. Hiện Nhà máy đạm Phú Mỹ và Nhà máy đạm Cà Mau đang đề nghị Bộ Công Thương sang năm 2013 được xuất khẩu từ 60.000- 80.000 tấn urê hiện được xuất khẩu 50.000 tấn. Đây là hướng đi hợp lý để các DN sớm tiếp cận thị trường, chuẩn bị cho các năm tới, khi sản xuất urê trong nước cung đã vượt cầu, các nhà máy hoạt động ổn định. Dự kiến khoảng hơn 2 năm nữa, khi nhà máy khai thác muối mỏ Kali tại Lào của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đi vào hoạt động, nước ta sẽ không phải nhập khẩu kali nữa. Với DAP, khoảng 3 năm nữa khi nhà máy DAP số 2 công suất 330.000 tấn/năm tại Lào Cai hoàn thành, sẽ đủ cung cấp hoàn toàn DAP trong nước. Với phân SA, hiện Cty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cũng đang triển khai dự án dây chuyền sản xuất SA 100.000 tấn/năm. Tất cả sẽ giúp nước ta dần chấm dứt giai đoạn nhập khẩu phân bón, hướng tới chủ động và xuất khẩu phân bón với số lượng lớn. Theo ông Nguyễn Hạc Thúy - Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam, lượng phân bón nhập khẩu giảm mạnh là do sản xuất trong nước đang ngày càng đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của loại phân bón quan trọng. Ví dụ như phân urê, sản lượng năm 2012 đã dư so với nhu cầu khoảng 1,8 triệu tấn/năm. Phân NPK, sản xuất trong nước hiện khoảng trên 4 triệu tấn/năm, trong khi nhu cầu trên 3 triệu tấn... Ngoài ra, việc xuất khẩu phân bón không còn phải chờ cấp phép như trước kia. Và xuất khẩu phân bón tăng cũng cho thấy chất lượng phân bón sản xuất trong nước đã được nâng cao. Ông Lê Quốc Phong - Tổng giám đốc Cty CP Phân bón Bình Điền - cho biết, sản lượng phân NPK của Cty năm nay là 700.000 tấn. Lượng NPK này sau khi đủ và dư thừa để cung cấp cho thị trường trong nước nên công ty đã hướng tới xuất khẩu từ mấy năm qua. Năm nay, lượng phân bón xuất khẩu của công ty đạt cao nhất với số lượng 100.000 tấn NPK, chủ yếu sang thị trường Campuchia. Ông Phong cũng cho biết, sang năm 2013, công ty đặt mục tiêu xuất khẩu 130.000 tấn và sẽ mở rộng thêm thị trường sang Myanmar. Muốn xuất khẩu, phải có thương hiệu Đó là kinh nghiệm nằm lòng” của các DN xuất khẩu phân bón hiện nay. Ông Phong phân tích, xuất khẩu phân bón ở nước ta đang theo 2 loại, có thương hiệu và không có thương hiệu, còn gọi là hàng xá. Xuất khẩu phân bón theo dạng thương hiệu mới có một số DN thực hiện, chủ yếu xuất sang các thị trường gần như Lào, Campuchia, Nhật Bản... Với phân bón thương hiệu, có được giá bán tốt hơn, lợi nhuận cao hơn và quan trọng nhất là sẽ giữ được thị trường ổn định, lâu dài. Còn với phân bón không thương hiệu, hàng xá, chủ yếu xuất sang các thị trường như Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia, châu Phi... Khi các nhà nhập khẩu thấy giá của Việt Nam rẻ hơn nước khác thì mua về đóng bao bì rồi tung ra thị trường dưới thương hiệu của họ. Như vậy thì mình chỉ là người gia công” cho họ với giá rẻ mà thôi” - ông Phong cho biết. Cũng chính thương hiệu mạnh đã giúp cho Cty CP Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao có được thị phần tại một thị trường khó tính như Nhật Bản. Ông Nguyễn Duy Khuyến - Tổng Giám đốc Cty CP Supe Phốt phát và hóa chất Lâm Thao - phấn khởi cho biết: Trong tháng 12/2012, Cty đã xuất những lô supe lân đầu tiên sang thị trường Nhật. Đây là một đất nước với nền nông nghiệp tiên tiến, đòi hỏi nguồn phân bón chất lượng cao và ổn định nên phân bón xuất được sang đây đòi hỏi rất khắt khe. Trong chuyến đi cuối tháng 12, đích thân Tổng Giám đốc Cty đã có chuyến khảo sát và giới thiệu, trình diễn mô hình bón phân Lâm Thao tại Nhật Bản. Tổng giám đốc Nguyễn Duy Khuyến cho biết, trước đó, phía Nhật Bản cũng đã cử nhiều đoàn sang tận Cty để giám sát quá trình sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm. Supe Lâm Thao cũng là đơn vị đầu tiên xuất khẩu được phân bón supe lân mang thương hiệu của chính Cty sang Nhật. Điều này chứng tỏ uy tín của thương hiệu chính là sức nặng quyết định việc xuất khẩu phân bón này. Chia sẻ thêm về kinh nghiệm xuất khẩu, Tổng Giám đốc TCty phân bón và hóa chất dầu khí PVFCCo Cao Hoài Dương nói: Nắm bắt được xu hướng dư thừa đạm urê, ngay từ năm 2010, PVFCCo đã tập trung vào công tác nghiên cứu, chuẩn bị thị trường. Cùng với việc cân đối để đảm bảo nhu cầu phân bón ở thị trường trong nước, PVFCCo đã bắt đầu hình thành hệ thống phân phối đạm Phú Mỹ tại một số nước trong khu vực như Campuchia, Lào, Myanmar. Tại Campuchia, PVFCCo đã thành lập chi nhánh để tiến hành các hoạt động kinh doanh phân bón và chuẩn bị thị trường cho công tác xuất khẩu sau này. Bên cạnh đó, năm 2011, PVFCCo đã ký kết biên bản ghi nhớ đặt quan hệ đối tác với những Cty thương mại phân bón quốc tế lớn như Mitsubishi, Sojitz và Transammonia về việc xuất khẩu phân đạm ngay khi nhu cầu trong nước đã được cung ứng đầy đủ… Lê Anh. Quá trình phân giải này nhanh hay chậm phụ thuộc vào các yếu tố thời tiết độ ẩm và nhiệt độ. Độ ẩm, nhiệt độ càng cao, quá trình phân giải phân càng diễn ra nhanh dẫn tới cây trồng hấp thu phân bón được sớm hơn và ngược lại. Điều này đồng nghĩa với việc bón phân cho lúa vụ chứng nhận, phân bón mùa sẽ nhanh thấy kết quả hơn ở vụ xuân. Vì vậy, muốn đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng phân bón cho lúa mùa, nông dân cần phải theo dõi và quan sát kỹ diễn biến thời tiết trong cả vụ cũng như thời điểm bón để điều chỉnh, chọn lựa loại phân thích hợp. Bón phân cho lúa hè thu, bà con phải trông chừng thời tiết. Thời điểm bón lót, nếu lúc cày bừa làm đất cấy lúa vụ mùa gặp thời tiết có mưa to, thậm chí phải tháo nước đi mới gieo cấy được. Còn khi gặp thời tiết nắng nóng liên tục kéo dài, nhiệt độ ban ngày trên 360C thì cần ưu tiên sử dụng phân hỗn hợp NPK các loại để bón mà không bón phân đơn nhằm mục đích tránh thất thoát phân bón, nhất là nguyên tố đạm. Nếu thời tiết ôn hòa thuận lợi thì có thể sử dụng phân đơn để bón sao cho cân đối và hiệu quả.Giai đoạn bón thúc đẻ nhánh cũng vậy. Nếu thời tiết mưa thuận gió hòa thì bón phân đơn để cây lúa hấp thu dinh dưỡng nhanh, giúp quá trình đẻ nhánh nhanh, làm tăng số bông hữu hiệu và tăng năng suất sau này. Còn nếu trời mưa hoặc nắng nóng kéo dài thì sử dụng phân NPK để bón thúc, nhưng lưu ý bón sớm vì phân hỗn hợp phân giải chậm hơn phân đơn. Nên bón vào lúc lúa có 3 lá thật đối với lúa gieo thẳng hoặc lúc lúa bén rễ hồi xanh đối với lúa cấy mạ dược.Tuy nhiên đến giai đoạn bón thúc đòng thì không nên sử dụng phân hỗn hợp NPK để bón cho lúa mùa, vì tầng đất canh tác lúc này đã chai cứng, khả năng thẩm thấu và phân giải của các viên phân hỗn hợp khó và chậm. Cây lúa hút dinh dưỡng giai đoạn này cũng không nhanh bằng giai đoạn lúa còn con gái do bộ rễ đã ăn sâu và cũng không cần phân lân nữa. Nên sử dụng các loại phân đơn đạm và kali để bón theo tỷ lệ thích hợp sẽ đạt hiệu quả cao hơn.Từ thời kỳ trổ bông đến thu hoạch khoảng 1 tháng là thời gian cây lúa huy động tất cả nguồn dinh dưỡng từ rễ, thân, lá đòng về bông để làm hạt. Năng suất lúa cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn này, nhất là các giống lúa lai lúa lai từ trổ bông đến thu hoạch hút kali cao gấp 2 lần lúa thuần. Tốt nhất nên sử dụng các loại phân K2SO4 hay còn gọi là kali trắng phun trực tiếp lên bông lúc lúa thấp thôi trổ hoặc sau trổ 1 tuần với liều lượng 200gram/2 bình phun/lần/sào.ThS Đoàn Hữu nghị. Ông Hương tâm sự, cũng vì vốn ít, thay vì làm quảng cáo, truyền thông rầm rộ như nhiều DN cùng ngành khác, ông đưa nhân viên kỹ thuật trực tiếp đến các đại lý, tỉnh thành giới thiệu chất lượng, hiệu quả của sản phẩm. Nhân viên của công ty còn xuống tận ruộng trao đổi và hướng dẫn bà con nông dân về cách sử dụng phân bón Arrow. Ngoài phần hướng dẫn sử dụng in rõ trên bao bì sản phẩm, ông Hương còn cho in các bộ sách hướng dẫn kỹ thuật cặn kẽ đối với từng loại cây trồng và gửi đến tận tay nông dân. Bên cạnh đó, công ty thiết lập đường dây nóng để kịp thời trao đổi, giải đáp thắc mắc khi nông dân cần. Tuy nhiên, thời gian đầu thâm nhập và giới thiệu sản phẩm với nông dân hoàn toàn không dễ dàng. Arrow chưa có thương hiệu, giá thành lại cao hơn so với một số nhãn hiệu phân bón lá khác. Vì thế, không chỉ xuống giới thiệu sản phẩm xong là về, các nhân viên của công ty phải ăn dầm ở dề nhiều ngày, nhiệt tình giúp đỡ nông dân, thậm chí cho đến khi bà con nhận thấy kết quả cụ thể của việc sử dụng phân bón Arrow. Và trời đã không phụ lòng ông giám đốc dám nghĩ dám làm khi hiện nay rất nhiều nông dân các tỉnh ĐBSCL tin dùng nhãn hiệu phân bón Arrow. Tự tin về Arrow, ông Hương nói: Tôi luôn coi trọng chất lượng sản phẩm. Muốn nông dân tin cậy và sử dụng nhãn hiệu phân bón của mình, đầu tiên phải có uy tín về chất lượng. Phân bón chất lượng, đạt hiệu quả nông dân mới sử dụng. Và một khi được ưa chuộng rồi, thương hiệu cũng sẽ được khẳng định trên thị trường”. Sự tự tin này còn được ông Hương thể hiện khi cho biết ông không hề lo lắng việc nhiều loại phân bón nước ngoài đang ồ ạt nhập khẩu về Việt Nam: Tôi tự hào với chất lượng sản phẩm phân bón do mình sản xuất. Bởi lẽ, trong khi giá thành sản phẩm nhập khẩu thường cao hơn so với các sản phẩm trong nước, bà con nông dân sẽ chọn loại phân bón chất lượng không thua kém nước ngoài nhưng giá thành rẻ hơn. Và với tiêu chí Xanh cây tốt quả - hể hả nhà nông”, Arrow đã thực hiện được điều này”.. Cty Vinacafe Quy Nhơn là đơn vị duy nhất có 100% vốn Nhà nước có nhiệm vụ cung ứng các loại phân bón cho các đơn vị trong và ngoài ngành với tiêu chí đảm bảo chất lượng. Ngoài ra, chúng tôi còn có trách nhiệm làm bình ổn giá phân bón trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên”, ông Nguyễn Nhật, GĐ Cty Vinacafe Quy Nhơn. Cty CP Phân lân Văn Điển đang cung cấp cho thị trường trên 60 loại phân bón chuyên dùng cho từng loại đất, từng loại cây trồng theo từng thời điểm sinh trưởng. Sản phẩm phân chuyên dùng Văn điển SX trên nền lân Văn Điển đều chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng cung cấp đồng thời, cân đối cho cây trồng. Lân Văn Điển là loại phân khoáng thiên nhiên không phải là phân hóa học nên thích hợp với việc canh tác nông sản sạch theo VietGAP, Global GAP. Theo đó, có 13 sản phẩm được đưa kiểm định chất lượng là: Bắp cải, cải thảo, xúp lơ, cà chua, đậu cô ve, ớt ngọt, xà lách, khoai tây, cà rốt, bó xôi, xà lách xoong, nấm bào ngư, hành tây sẽ có nhãn hiệu Rau Đà Lạt”.HOÀNG LY. Ngày 21/11, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với bà Vũ Thị Ngọc Bích 45 tuổi – là Giám đốc Công ty Sản xuất thương mại và dịch vụ Việt Nhật, trụ sở tại tổ dân phố 4, thị trấn Ea TLing, huyện Cư Jút về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả…”. Theo kết quả điều tra, trong năm 2003, Công ty Việt Nhật do Vũ Thị Ngọc Bích làm giám đốc, trực tiếp quản lý điều hành đã có những sai phạm trong việc thực hiện các quy định, quy trình sản xuất phân bón, không sử dụng máy móc dây chuyền để sản xuất, không xây dựng phòng thí nghiệm, hợp đồng với đơn vị có chức năng để thực hiện kiểm tra chất lượng nguyên liệu đầu vào, chất lượng sản phẩm sản xuất ra mà vẫn bán ra thị trường; ủy quyền cho người không có trình độ chuyên môn theo quy định để trực tiếp điều hành sản xuất phân bón… Với thủ đoạn đó, từ tháng 3 đến tháng 8/2013, Công ty Việt Nhật đã sản xuất và xuất ra thị trường với số lượng 118,8 tấn phân bón kém chất lượng, trong đó có 31 tấn phân bón đã bán cho nguời dân được cơ quan điều tra xác định đều là phân bón giả. Toàn bộ số phân bón này sau khi được người dân mua về sử dụng một thời gian ngắn thì thấy hiện tượng cây vàng lá, chết dần. Để che mắt cơ quan chức năng, Công ty Việt Nhật đã kê khai các hóa đơn giá trị gia tăng số 0026, 0027, 0028 thể hiện việc mua nguyên liệu sản xuất phân bón NPK của chi nhánh Công ty Việt Nhật Đắk Lắk do bà Lê Thị Thúy làm giám đốc. Tuy nhiên, toàn bộ Chứng nhận, phân bón hóa đơn trên đều là hóa đơn xuất khống, bất hợp pháp được bà Bích sử dụng để kê khai nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất nhằm che giấu việc sản xuất phân bón kém chất lượng của Công ty Việt Nhật… Hiện vụ việc đang được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông tiếp tục làm rõ .


Nông dân luôn tin tưởng, lựa chọn sản phẩm của các DN uy tín, có thương hiệu. Nếu bón không đúng cách, phân bón có nguy cơ gây ô nhiễm cho cây rau. CôngThương - Trong những năm gần đây, Công ty phân bón Bình Điền đã tiên phong trong việc nghiên cứu áp dụng công nghệ xanh để sản xuất ra các sản phẩm phân bón vừa nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vừa chống thất thoát để giảm chi phí và giảm thiểu tác động xấu tới môi trường. Công tác đầu tư nghiên cứu và sáng tạo đã đem đến nhiều sản phẩm công nghệ xanh”. Như phân bón Urea hạt vàng Đầu Trâu 46A+, NPK Đầu trâu +Agrotain là kết quả của sự hợp tác trong nghiên cứu, ứng dụng giữa Bình Điền và các nhà khoa học Mỹ, giải quyết được bài toán tưởng chừng rất khó này. Các kết quả khảo nghiệm tại Cần Thơ, Sóc Trăng, Tiền Giang, Lâm Đồng, TP. Hồ Chí Minh... Được thực hiện bởi Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long đối với lúa, rau, đậu... Đã cho thấy phân đạm được xử lý Agrotain Đầu Trâu hạt vàng 46A+ và NPK Đầu Trâu + Agrotain giúp tiết kiệm được phân đạm tới 30%, vừa tăng năng suất, chất lượng lại chống thất thoát, bảo vệ môi trường.Từ kết quả này, thay vì sử dụng 4 bao urea thông thường cho mỗi ha lúa theo tập quán thì nay bà con nông dân chỉ cần sử dụng 3 bao phân đạm hạt vàng và sử dụng chưa tới 350 kg NPK Đầu Trâu +Agrotain là đủ. Đối với dòng sản phẩm NPK Đầu Trâu + Agrotain còn được bổ sung thêm các chất trung, vi lượng theo nhu cầu của cây và các hoạt chất gia tăng hiệu quả sử dụng nên hiệu quả còn vượt hơn mong đợi. Bao bì của các sản phẩm này cũng đã được cải tiến cả về chất liệu và kích cỡ để nông dân có thể tận dụng chứa nông sản mà không trở thành rác thải gây ô nhiễm môi trường.Công nghệ xanh thân thiện với môi trường giúp tiết kiệm phân bón, giảm thiểu ô nhiễm môi trường đang được sử dụng tại các nước tiên tiến như Mỹ, Canada, Úc, Newzealand, Braxin... Và cho kết quả tốt. Các sản phẩm này đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá về sáng tạo và chất lượng nhiều năm liền tại Mỹ, Braxin... Tại Việt Nam, sản phẩm đã được Hội đồng Khoa học của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đánh giá cao và cho phép áp dụng trong sản xuất. Công ty phân bón Bình Điền là doanh nghiệp duy nhất được ứng dụng các sản phẩm này tại Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan, mở ra một hướng đi mới cho sản xuất phân bón tại Việt Nam. Nguyễn Duyên. Hình minh họa Tăng xuất, giảm nhập Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn NN&PTNT dự báo, năm 2013 cả nước cần khoảng 10,3 triệu tấn phân bón các loại. Trong đó chúng ta chỉ phải nhập khẩu gần 2,5 triệu tấn, giảm khoảng 1,5 triệu tấn so với năm 2012 do nguồn phân bón sản xuất trong nước tăng. Cụ thể, theo tính toán của Bộ NN&PTNT, trong số gần 2,5 triệu phân bón nhập khẩu, có 850.000 chung nhan, phan bon tấn SA, 570.000 tấn DAP và 950.000 tấn kali và 100.000 tấn NPK. Riêng phân ure, chúng ta không nhập vì nguồn cung trong nước đáp đã ứng đủ nhu cầu tiêu thụ, thậm chí còn đang hướng đến xuất khẩu. Theo thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, tính đến hết 11 tháng năm 2012, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,182 triệu tấn phân bón các loại, bằng 127% so với cùng kỳ năm 2011. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là phân urê và NPK. Với nhu cầu phân đạm cả nước chỉ khoảng 2 triệu tấn/năm trong khi năng lực sản xuất phân urê của các nhà máy trong nước sẽ ở ngưỡng 2,6 triệu tấn vào năm nay, việc đẩy mạnh xuất khẩu, tìm kiếm khách hàng và thị trường quốc tế là yêu cầu bắt buộc với mỗi DN. Hiện Nhà máy đạm Phú Mỹ và Nhà máy đạm Cà Mau đang đề nghị Bộ Công Thương sang năm 2013 được xuất khẩu từ 60.000- 80.000 tấn urê hiện được xuất khẩu 50.000 tấn. Đây là hướng đi hợp lý để các DN sớm tiếp cận thị trường, chuẩn bị cho các năm tới, khi sản xuất urê trong nước cung đã vượt cầu, các nhà máy hoạt động ổn định. Dự kiến khoảng hơn 2 năm nữa, khi nhà máy khai thác muối mỏ Kali tại Lào của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đi vào hoạt động, nước ta sẽ không phải nhập khẩu kali nữa. Với DAP, khoảng 3 năm nữa khi nhà máy DAP số 2 công suất 330.000 tấn/năm tại Lào Cai hoàn thành, sẽ đủ cung cấp hoàn toàn DAP trong nước. Với phân SA, hiện Cty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cũng đang triển khai dự án dây chuyền sản xuất SA 100.000 tấn/năm. Tất cả sẽ giúp nước ta dần chấm dứt giai đoạn nhập khẩu phân bón, hướng tới chủ động và xuất khẩu phân bón với số lượng lớn. Theo ông Nguyễn Hạc Thúy - Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam, lượng phân bón nhập khẩu giảm mạnh là do sản xuất trong nước đang ngày càng đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của loại phân bón quan trọng. Ví dụ như phân urê, sản lượng năm 2012 đã dư so với nhu cầu khoảng 1,8 triệu tấn/năm. Phân NPK, sản xuất trong nước hiện khoảng trên 4 triệu tấn/năm, trong khi nhu cầu trên 3 triệu tấn... Ngoài ra, việc xuất khẩu phân bón không còn phải chờ cấp phép như trước kia. Và xuất khẩu phân bón tăng cũng cho thấy chất lượng phân bón sản xuất trong nước đã được nâng cao. Ông Lê Quốc Phong - Tổng giám đốc Cty CP Phân bón Bình Điền - cho biết, sản lượng phân NPK của Cty năm nay là 700.000 tấn. Lượng NPK này sau khi đủ và dư thừa để cung cấp cho thị trường trong nước nên công ty đã hướng tới xuất khẩu từ mấy năm qua. Năm nay, lượng phân bón xuất khẩu của công ty đạt cao nhất với số lượng 100.000 tấn NPK, chủ yếu sang thị trường Campuchia. Ông Phong cũng cho biết, sang năm 2013, công ty đặt mục tiêu xuất khẩu 130.000 tấn và sẽ mở rộng thêm thị trường sang Myanmar. Muốn xuất khẩu, phải có thương hiệu Đó là kinh nghiệm nằm lòng” của các DN xuất khẩu phân bón hiện nay. Ông Phong phân tích, xuất khẩu phân bón ở nước ta đang theo 2 loại, có thương hiệu và không có thương hiệu, còn gọi là hàng xá. Xuất khẩu phân bón theo dạng thương hiệu mới có một số DN thực hiện, chủ yếu xuất sang các thị trường gần như Lào, Campuchia, Nhật Bản... Với phân bón thương hiệu, có được giá bán tốt hơn, lợi nhuận cao hơn và quan trọng nhất là sẽ giữ được thị trường ổn định, lâu dài. Còn với phân bón không thương hiệu, hàng xá, chủ yếu xuất sang các thị trường như Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia, châu Phi... Khi các nhà nhập khẩu thấy giá của Việt Nam rẻ hơn nước khác thì mua về đóng bao bì rồi tung ra thị trường dưới thương hiệu của họ. Như vậy thì mình chỉ là người gia công” cho họ với giá rẻ mà thôi” - ông Phong cho biết. Cũng chính thương hiệu mạnh đã giúp cho Cty CP Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao có được thị phần tại một thị trường khó tính như Nhật Bản. Ông Nguyễn Duy Khuyến - Tổng Giám đốc Cty CP Supe Phốt phát và hóa chất Lâm Thao - phấn khởi cho biết: Trong tháng 12/2012, Cty đã xuất những lô supe lân đầu tiên sang thị trường Nhật. Đây là một đất nước với nền nông nghiệp tiên tiến, đòi hỏi nguồn phân bón chất lượng cao và ổn định nên phân bón xuất được sang đây đòi hỏi rất khắt khe. Trong chuyến đi cuối tháng 12, đích thân Tổng Giám đốc Cty đã có chuyến khảo sát và giới thiệu, trình diễn mô hình bón phân Lâm Thao tại Nhật Bản. Tổng giám đốc Nguyễn Duy Khuyến cho biết, trước đó, phía Nhật Bản cũng đã cử nhiều đoàn sang tận Cty để giám sát quá trình sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm. Supe Lâm Thao cũng là đơn vị đầu tiên xuất khẩu được phân bón supe lân mang thương hiệu của chính Cty sang Nhật. Điều này chứng tỏ uy tín của thương hiệu chính là sức nặng quyết định việc xuất khẩu phân bón này. Chia sẻ thêm về kinh nghiệm xuất khẩu, Tổng Giám đốc TCty phân bón và hóa chất dầu khí PVFCCo Cao Hoài Dương nói: Nắm bắt được xu hướng dư thừa đạm urê, ngay từ năm 2010, PVFCCo đã tập trung vào công tác nghiên cứu, chuẩn bị thị trường. Cùng với việc cân đối để đảm bảo nhu cầu phân bón ở thị trường trong nước, PVFCCo đã bắt đầu hình thành hệ thống phân phối đạm Phú Mỹ tại một số nước trong khu vực như Campuchia, Lào, Myanmar. Tại Campuchia, PVFCCo đã thành lập chi nhánh để tiến hành các hoạt động kinh doanh phân bón và chuẩn bị thị trường cho công tác xuất khẩu sau này. Bên cạnh đó, năm 2011, PVFCCo đã ký kết biên bản ghi nhớ đặt quan hệ đối tác với những Cty thương mại phân bón quốc tế lớn như Mitsubishi, Sojitz và Transammonia về việc xuất khẩu phân đạm ngay khi nhu cầu trong nước đã được cung ứng đầy đủ… Lê Anh .. Thùy Dung Quang cảnh Hội thảo quốc gia về phân bón - Ảnh: Thùy Dung Đây là thông tin được đưa ra tại Hội nghị quốc gia về Quản lý phân bón và chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững diễn ra sáng nay, 18-6, tại Hà Nội. Tràn lan phân bón giả… Theo ông Đỗ Thanh Lam – Phó Cục trưởng Cục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương, cho hay riêng trong năm 2013 lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra 4.689 vụ, phát hiện và xử lý 1.483 vụ vi phạm tịch thu 813.881 kg, 11.830 gói và 1.665 chai phân bón các loại. Trong đó, phân bón giả, phân bón kém chất lượng được lực lượng quản lý thị trường phát hiện nhiều nhất tại An Giang, Long An, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bến Tre, Tiền Giang chiếm 84,1% vụ vi phạm kém chất lượng và 80% vụ vi phạm phân bón giả trên cả nước. Riêng quý I-2014, lực lượng quản lý thị trường đã phát hiện 88 vụ vi phạm, tịch thu 88.642 kg và 153 lọ, chai phân bón giả kém chất lượng, quá hạn sử dụng, phân bón lậu… Ông Nguyễn Hạc Thúy - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam, cho hay phân bón giả, kém chất lượng không chỉ ảnh hưởng tới nhà sản xuất chân chính mà nghiêm trọng hơn còn khiến cho cây trồng chậm phát triển, năng suất giảm, gây tổn thất nặng nề cho bà con nông dân mà các tính toán gần đây cho thấy, con số thiệt hại do phân bón giả kém chất lượng, sử dụng không hiệu quả phân bón có thể lên tới con số 2 tỉ đô la Mỹ/năm. Việc thanh tra, kiểm soát phân bón giả cũng không hề đơn giản. Theo ông Đỗ Thanh Lam bằng mắt thường không thể phân biệt được phân bón giả, kém chất lượng. Trong khi máy móc hỗ trợ nhận biết còn thiếu, chi phí mua mẫu kiểm tra cao trong khi lực lượng quản lý thị trường còn rất mỏng dẫn tới nhiều hạn chế, khó khăn. Theo ông Nguyễn Duy Khuyến, Tổng giám đốc Công ty Super Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, để quản lý nạn phân bón giả cần có quy định cấp phép cho các cơ sở sản xuất phân bón với quy định rõ ràng, như phải có đầy đủ thiết bị, công nghệ, đội ngũ cán bộ công nhân, phòng thí nghiệm…Cần quản lý tận gốc những nơi sản xuất phân bón vì nếu họ đầu tư bài bản thì sẽ đưa ra những sản phẩm đảm bảo chất lượng. Trước đây việc cấp phép quá đơn giản, nhiều nơi chỉ có quốc xẻng, lò chõ thôi là sản xuất được phân bón rồi” – ông Khuyến nói. Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Gia Tường, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cho hay hiện tại trong nước có hàng trăm doanh nghiệp sản xuất phân bón với hàng nghìn chủng loại sản phẩm khác nhau. Trong đó khoảng 10% doanh nghiệp có quy mô sản xuất tương đối lớn, công nghệ sản xuất tiên tiến và hiện đại, hàng năm sản xuất khoảng 90% phân bón của cả nước. Khoảng 90% còn lại là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với công nghệ sản xuất đơn giản và sản xuất thủ công là chính. Cơ cấu này đạt sự phát triển về số lượng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng cũng làm đau đầu các nhà quản lý, làm ảnh hưởng tới lợi ích của doanh nghiệp khác và làm thiệt hại lợi ích của nông dân khi mà rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ vi phạm trong hoạt động sản xuất kinh doanh phân bón” – ông Tường nói. Quá phụ thuộc phân bón Trung Quốc Tại Hội thảo ông Nguyễn Gia Tường còn nêu một nghịch lý trong ngành sản xuất phân bón hiện nay là mặc dù đã đáp ứng được 100% nhu cầu về phân ure, phân lân chế biến, phân NPK nhưng các doanh nghiệp sản xuất phân bón Việt Nam vẫn chịu tác động lớn và khó cạnh tranh với phân bón nhập khẩu đặc biệt là phân bón từ Trung Quốc. Hiện nay phân bón DAP cũng gặp nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh với phân DAP nhập khẩu, đặc biệt theo đường tiểu ngạch với Trung Quốc. Hình thức nhập này rất khó kiểm soát về chất lượng và thuế nên tình trạng gian lận thương mại, trà trộn phân DAP chất lượng thấp cạnh tranh không bình đẳng với DAP sản xuất trong nước” – ông Tường nói. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ước tính khối lượng nhập khẩu phân bón 5 tháng đầu năm 2014 đạt 1,31 triệu tấn, trị giá 405 triệu đô la Mỹ, giảm 14,9% về lượng và giảm 35,8% về giá trị so với năm 2013. Trong đó, nguồn phân bón nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, chiếm tới gần 50% kim ngạch nhập khẩu. Ông Tường đề nghị nhà nước xây dựng và triển khai ngay các chính sách hạn chế nhập khẩu và kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu phân bón, đặc biệt là từ Trung Quốc như tạm dừng hoạt động nhập khẩu phân bón biên mậu; tăng thuế xuất nhập khẩu phân bón lên mức cao nhất theo cam kết thương mại ký giữa Việt Nam và các nước. Đồng thời tăng các biện pháp quản lý thị trường phân bón trong nước đặc biệt đối với phân bón nhập khẩu. Cty CP Phân bón Bình Điền được cổ phần hóa từ Công ty chứng nhận, phân bón Phân bón Bình Điền thuộc Tập đoàn Hóa chất VN có vốn điều lệ 397 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước chiếm 65%, của nhà đầu tư chiến lược chiếm 15% có cả nhà cung cấp nguyên liệu nước ngoài. Tháng 11 vừa qua, Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM đã đấu giá 7.371.300 cổ phiếu đại chúng với giá bình quân 14.543 đ/CP, đây là mức giá được đánh giá là khá cao trong tình trạng ảm đạm của thị trường chứng khoán. Đáng chú ý, trong số hơn 7 triệu CP đại chúng được bán có tới 3,5 triệu CP thuộc Quỹ Đầu tư VinaCapital.Sản phẩm của Cty Phân bón Bình Điền mang nhãn hiệu Phân bón Đầu trâu có mức tăng trưởng tốt trong nhiều năm liền, năm 2008 đạt sản lượng 296.220 tấn NPK, doanh số 3.012 tỷ; năm 2009 đạt 334.820 tấn doanh số 3.025 tỷ và ước năm 2010 đạt 420.000 tấn doanh số 3.750 tỷ đồng. Chủ tịch HĐTV Cty TNHH MTV DAP VINACHEM Lâm Thái Dương: Sản phẩm DAP Đình Vũ khác hẳn DAP Trung Quốc là màu sắc tự nhiên, không nhuộm thêm phẩm màu bên ngoài, không tốn thêm chi phí nên giá bán luôn rẻ hơn DAP Trung Quốc. Nhà máy DAP Đình Vũ đạt công suất thiết kế 330.000 tấn/năm, cung cấp sản phẩm cho chủ yếu các tỉnh ĐBSCL và Nam bộ. Sang năm 2013, chúng tôi sẽ mở rộng thị trường ra miền Bắc và miền Trung để đáp ứng nhu cầu của nông dân. Mặc dù là sản phẩm phân bón còn khá mới mẻ với người dân ở hai khu vực này, song chúng tôi tin tưởng, với chất lượng và hiệu quả, phân bón DAP Đình Vũ sẽ nhanh chóng chiếm được niềm tin của bà con. Mang hàng sang nước bạn Khi Campuchia kêu gọi nhà đầu tư trong khu vực tham gia các dự án về nông lâm nghiệp, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã sang Campuchia thuê đất đầu tư trồng lúa, cao su, điều, mía... Diện tích trồng của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tăng cao nên nhu cầu tiêu thụ phân bón cho cây trồng cũng ngày một lớn. Với khí hậu, thổ nhưỡng Campuchia giống Việt Nam, phân NPK đang sản xuất tại Năm Sao sẽ phù hợp tại thị trường này. Nghĩ vậy, ông Trần Văn Mười, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Năm Sao, đã thử đưa phân bón sản xuất tại Việt Nam sang phân phối tại thị trường này. Thời gian đầu, Công ty gặp phải trở ngại lớn. Người dân Campuchia vốn chưa quen với việc bón phân cho cây nên chưa quan tâm đến sản phẩm này. Nhiều vùng ở Campuchia, chính quyền còn cấm bán phân bón vì quan niệm phân bón làm ảnh hưởng đến chất lượng đất. Phải làm sao để bà con nông dân hiểu được tác dụng của việc bón phân cho cây? Lúc này Công ty đã kết hợp với một số nhà khoa học từ Việt Nam sang Campuchia hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật canh tác mới. Sau thời gian tìm hiểu và nắm được các quy trình sản xuất tiết kiệm chi phí, giúp cây trồng tăng năng suất hơn trước, người dân Campuchia bắt đầu có cái nhìn khác về phân bón. Nhưng khó khăn là sau đó Năm Sao phải cạnh tranh với các nhà phân phối của Trung Quốc, Thái Lan. Nhiều phân bón bị làm giả, giá thấp từ những nhà phân phối khác đã khiến cho Công ty bị lây tiếng xấu. Năm Sao đã kiên trì làm các thử nghiệm trực quan, hướng dẫn người nông dân để họ phân biệt chất lượng. Cứ miệt mài giải quyết từng vấn đề như thế, đến năm 2008, tức 3 năm sau ngày thâm nhập thị trường, sản lượng của Công ty đã tăng. Phương án chạy theo nông nghiệp của Năm Sao đã thành công khi trang trại của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Campuchia như Cao su Phú Riềng, Cao su Bà Rịa, Cao su Tân Biên...đều là khách hàng của Công ty. Doanh thu của Năm Sao năm 2011 đã lên đến 1.396 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 36 tỉ đồng. Sau gần 7 năm có mặt tại Campuchia, hiện nay Công ty tiêu thụ khoảng 3.000 tấn các loại/tháng. Cho đến nay, phân bón Năm Sao đã được tiêu thụ rộng rãi tại 15 tỉnh của Campuchia từ khu vực giáp biên giới Thái Lan đến biên giới Việt Nam. Do nhu cầu tăng nhanh nên hiện nay nhà máy phải chạy 3 ca mới đảm bảo kịp thời cho những đơn hàng từ Campuchia. Đi trước 1 bước Nhận thấy nhu cầu cao như vậy, Năm Sao đã quyết định mở nhà máy ngay tại nước bạn. Thủ tướng Hunsen của Campuchia đã quan tâm tới dự án này và cho rằng, người dân Campuchia sẽ được cung cấp phân bón nhiều hơn với chất lượng tốt hơn. Ông Hunsen cũng cho biết, đây là nhà máy thứ bảy được xây dựng tại Campuchia và là nhà máy phân bón đầu tiên tại Campuchia. Tháng 12.2009, Năm Sao đã khởi công xây dựng nhà máy phân bón Năm Sao tại tỉnh Kandal, Campuchia với tổng vốn đầu tư 65 triệu USD. Nhà máy sản xuất 2 loại phân chính là NPK và phân vi sinh vật giúp cải tạo đất. Theo thiết kế, công suất giai đoạn đầu là 350.000 tấn/năm, giai đoạn sau tăng lên 500.000 tấn/năm. Nhà máy được đầu tư 3 dây chuyền sản xuất nhập từ Nhật, Trung Quốc và Mỹ, tháng 11.2012 sẽ chính thức đi vào hoạt động. Sản phẩm của nhà máy tại Campuchia sẽ mang nhãn mác và thương hiệu Campuchia. Việc đầu tư tại chỗ sẽ giúp Công ty giảm được chi phí vận chuyển so với việc xuất khẩu trước đây. Ông Mười cho biết, nhà máy đã áp dụng mô hình quản lý hàng tồn kho Just in time Đúng sản phẩm - với đúng số lượng - tại đúng nơi - vào đúng thời điểm cần thiết. Mô hình này giúp nhà máy giảm chi phí trong khâu lưu kho. Theo ông Mười, trước mắt nhà máy sẽ sản xuất để phục vụ thị trường Campuchia, sau đó tiến tới xuất khẩu sang các thị trường lân cận. Công ty cũng đã xuất khẩu sang thị trường Nhật và Thái Lan trong 3 năm qua. Không chỉ sản xuất NPK tại Campuchia, Công ty Phân bón Quốc tế Năm Sao Campuchia còn là tổng đại lý cung cấp các loại phân bón trực tiếp như đạm, lân, Kali, Urê... Cũng như thuốc bảo vệ thực vật các loại tại đây. Vào lúc này, với việc các doanh nghiệp phân bón trong nước đang đầu tư ồ ạt xây dựng nhà máy sản xuất, phân bón đang có xu hướng vượt nhu cầu tiêu thụ. Theo ông Nguyễn Hạc Thúy, Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam, bắt đầu từ năm 2012, Việt Nam sẽ thừa phân bón. Do vậy, dác doanh nghiệp trong nước sẽ phải tự tìm thị trường xuất khẩu để tránh tồn kho.

.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét